Sự ra đời của thành ngữ CÔNG TỬ BẠC LIÊU (Kỳ 1)

Những câu chuyện về Trần Trinh Huy – người được mệnh danh là Công tử Bạc Liêu đã diễn ra khá lâu, đến nay đã hơn nửa thế kỷ. Do trải qua nhiều biến thiên thời cuộc nên những tài liệu liên quan đến dòng họ Trần Trinh hầu như chẳng còn gì. Mọi người tiếp nhận hiện tượng này bằng những thông tin khác nhau và rời rạc qua một ít sách báo và qua truyền miệng dân gian… Những người đã từng sống chung, chứng kiến lối sống của Công tử Bạc Liêu đến nay đã qua đời gần hết, chỉ còn lại một ít người nhưng đã tám, chín mươi tuổi, trí nhớ không còn minh mẫn. Để viết tập sách này, người viết sưu tầm tài liệu từ 3 nguồn: Chuyện kể của những người trong gia tộc, kẻ ăn người ở trong nhà dòng họ Trần và các tá điền; nguồn thứ hai là các loại sách báo; và cuối cùng là từ các giai thoại dân gian truyền miệng… nhằm cung cấp cho các bạn đọc một cái nhìn tương đối có hệ thống về hiện tượng đặc biệt này. Tác giả chỉ dám đặt tựa sách là: “ Công tử Bạc Liêu – Sự thật và giai thoại” vì trong đó có sự nhầm lẫn những giai thoại, mà cái hấp dẫn nhiều người từ trước đến nay không chỉ vì sự thật, mà vì những giai thoại truyền miệng ấy. Dám mong độc giả lượng thứ mà chấp nhận ở chừng mực như vậy

“Tôi đã đến cái xứ sở quê mùa ấy vào một đêm cuối mùa mưa… Cảnh tượng vẫn một màu sắc Nam Kỳ với những chiếc xe lôi cục mịch, những chiếc xe kéo cao lêu nghêu, chật hẹp và dài cán; đàng xa, trên sông, thấp thoáng những chiếc ghe bầu, ghe lườn. Chính tỉnh lỵ không có gì là lớn. Vỏn vẹn chỉ có dãy phố quanh chợ và bến sông là vui vẻ, tấp nập. Tất cả, có lẽ chỉ bằng một khu chợ gạo Hà Nội. Nhưng nhờ trong xứ sở lúa sản xuất nhiều, đường giao thông lại tiện lợi nên đã thành một trung tâm điểm kinh tế rất năng động.

… Dù sao, đừng tưởng rằng Châu Thành Bạc Liêu buồn tẻ như những tỉnh nhỏ ngoài Bắc mình. Trái lại, Bạc Liêu là một đất ăn chơi. Trong Châu Thành có tới ba rạp chiếu bóng và một rạp hát nguy nga hơn những rạp hát Hà thành nhiều. Nhà cửa cho thuê hiếm và không được lịch sự, nhưng ở bên kia sông, về phía nhà thờ, có nhiều villa mới xây của mấy vị Điền chủ coi vậy cũng đẹp mắt. Chợ lập sát sông, không đồ sộ như chợ Bến Thành – Sài Gòn, không rộng rãi như chợ Đồng Xuân  – Hà Nội, nhưng tươi sáng, sạch sẽ hơn. Tết đến, trong mấy ngày chợ đêm, ghé ở các tỉnh chở những hàng lên bán tấp nập, ồn ào không kém gì những Thành phố lớn…”.

Trên đây là trích đoạn bài báo “Đây, Bạc Liêu” của Tạ Như Khuê, đăng trên tuần báo Thanh Nghị, ra ngày 11/03/1944. Đó là cái nhìn của một Nhà báo Hà Nội đối với quang cảnh kinh tế – xã hội của Bạc Liêu vào nửa đầu thế kỷ 20. Ông gọi “ Bạc Liêu là một đất ăn chơi…”. Hẳn nhiên, đất ăn chơi thì phải có những con  người ăn chơi.

Ông Nguyễn Vũ – Phó Giám đốc Sở VHTTDL Tỉnh Bạc Liêu giới thiệu với Hoa hậu Việt Nam 2012 Đặng Thu Thảo về kiến trúc Nhà Công tử Bạc Liêu

Năm 1895, dân số của tỉnh Bạc Liêu (tính luôn tỉnh Cà Mau ngày nay) chỉ có 46.498 người. Điều đó nói lên rằng, đất Bạc Liêu vẫn chưa được khai thác bao nhiêu, phần lớn còn lại vẫn còn hoang địa. Trước năm 1882, con đường từ Bạc liêu đi Cà mau chỉ là một con lung ngoằn ngoèo nằm giữa một đồng cỏ bao la, có đoạn ghe không đi được phải dùng trâu kéo. Mùa hạn từ Cà Mau lên Bạc Liêu phải mất ba ngày. Sách “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” của Sơn Nam viết: “Nhà nước giúp dân bằng việc cặm cây làm dấu chỉ đường đi… Năm 1902 trở về trước, có rất nhiều người tham vọng đến đây khai phá để làm Điền chủ đành phải cuốn nóp ra đi vì đất đai quá phèn, quá úng, không có kinh mương thoát nước đổ phèn, làm 2 – 3 năm vẫn chưa thu được huê lợi. Một người đến Tân Hưng khẩn 160 mẫu đất, thiếu thuế Nhà nước rồi bị bỏ tù, Hương chức làng dán yết thị, rao bán đất ấy để bù tiền thuế nhưng không ai thèm mua. Nhiều người khai phá “đất ráng” ven sông cho tiện việc xổ nước thì đến vụ lúa trổ, nước mặn tràn lên lúa trổ cờ trắng, không thu hoạch được”.

Nhà văn Sơn Nam, trong sách ấy, đã đánh giá rằng: “Mức trưởng thành của Bạc Liêu, khi chuyển mình đóng góp vào vựa lúa miền Nam, có thể đánh dấu vào năm 1914…”. Đó là lúc hệ thống kênh thủy lợi Cà Mau – Bạc Liêu, Quản Lộ-Phụng Hiệp… phát huy tác dụng. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, với thâm ý vơ vét thuộc địa, người Pháp đã bắt nhân công bản xứ và cho cơ giới (tàu cuốc, tàu xáng) của giới Tư bản Pháp đào tạo một hệ thống thủy lợi chằng chịt ở miệt Hậu Giang (theo cách gọi vào đầu thế kỷ, vùng này được tính từ tả ngạn sông Mê Kông trở xuống mũi Cà Mau). Đây là một cuộc làm thủy lợi lớn nhất trong lịch sử làm nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long. Vì thế, nó giải phóng năng lực cho một vùng đất rộng lớn của miền Hậu Giang cò bay thẳng cánh, bằng việc đưa nước ngọt từ sông Mê Kông về và tháo úng xổ phèn ra biển Đông. Tại Bạc Liêu, cơn lụt thường niên vào tháng 8 âm lịch ngập đến bụng trâu đã giải quyết. Việc tháo úng cho những cánh đồng cầm thủy, phèn vàng quánh của vùng Bắc Quốc lộ 1A ngày nay cũng được giải quyết, bởi đã có con kinh Gành Hào và các kinh trục như: Số 2, Cầu Sập – Ngan Dừa, Hộ Phòng – Phó sinh… để tiêu thoát nước ra biển Đông. Ngoài ra, hệ thống kinh mương còn làm cho việc vận chuyển lúa gạo dễ dàng hơn. Đất đai trở nên có năng suất và có giá trị hơn, người ở nơi khác đến khẩn đất ngày càng nhiều thêm. Diện tích khẩn hoang tăng rất nhanh, năm 1927, diện tích sản xuất của lúa Bạc Liêu đứng thứ nhì Nam phần, chỉ sau Rạch Giá.

Thế nhưng, nếu chính sách điền địa thời đàn cựu của các Chúa Nguyễn là ai có nhân lực, vật lực thì tự do vào trưng khẩn. Và khi khai hoang một diện tích đủ thành lập làng mới thì cho người đó làm Trưởng làng (Hương cả) thì người Pháp (miệng thì rêu rao đổi mới chính sách điền địa) vẫn giữ như cũ, với mục đích thu thuế nhanh. Chính sách đó đã tạo ra những ưu thế của những người có tiền của và quyền thế. Họ nắm rõ kế hoạch đào kinh nên chiếm trước những vùng đó mà kinh xáng đã đào hoặc chuẩn bị đào ngang. Họ dùng quyền thế để “khẩn hoang trên giấy”. Nghĩa là cướp đất của người đi khẩn hoang bằng cách xin chính quyền Thực dân cấp đất cho họ trên mảnh đất mà lưu dân khẩn hoang đã khai thác rồi. Thế nên, thành quả của công cuộc làm thủy lợi nêu trên chỉ tập trung vào tay một nhóm người có của cải và thế lực. Từ đó, một tầng lớp gọi là Đại Điền chủ ở Bạc Liêu ra đời.

Các nhà khảo cứu lịch sử đánh giá rằng, họ vừa là con đẻ của thực dân phong kiến đồng thời là Sản phẩm của kinh đào miền Hậu Giang. Những tên tuổi nổi tiếng khắp Nam kỳ lúc bấy giờ là: Người đứng số một là Trần Trinh Trạch, chiếm 110.000 mẫu ruộng (có tài liệu đến 145.000 nẫu) và gần 100.000 mẫu ruộng muối (có tài liệu chỉ 10.000 mẫu); đứng thứ hai là Vưu Tụng, chiếm 75.000 mẫu; thứ ba là Châu Oai, chiếm 40.000 mẫu; thứ tư là Cao Minh Thạnh (Đốc Phủ sứ và là thân sinh của nhân sĩ Cao Triều Phát); kế đến là Huỳnh Hữu Phước và hai anh em Mai Hữu Quì, Mai Hữu Kiến; kế nữa là Quách Ngọc Đống (còn gọi là Chủ Đống). Ngoài ra, còn 8 chủ miền Tây khác. Có một tổng kết cho rằng, thời Pháp thuộc, tỉnh Bạc Liêu là nơi có số lượng Địa chủ ít nhất nước (chưa đầy 2%), nhưng cũng là nới Địa chủ chiếm nhiều ruộng đất nhất nước (trên 95%).

Lúc bấy giờ, để được hưởng đặc quyền trong chính sách điền địa của người Pháp, hầu hết các Đại Điền chủ ở Bạc Liêu đều theo quốc tịch Pháp, người ta gọi là “vô dân Tây”. Và theo qui định của chính quyền thực dân, con của các gia đình này phải vào học các trường do Pháp dạy, để học nói tiếng Pháp, tiếp nhận văn hóa Pháp. Từ đó, xuất hiện phong trào đưa con lên Sài Gòn hoặc qua Pháp quốc học trường Tây. Đó cũng là cái mốt của các nhà quyền quý lúc bấy giờ. Hầu hết cái đại điền chủ ở Bạc Liêu đều mua nhà trên Sài Gòn để đưa con cái lên đó ở và học. Lớp của con cháu học sinh ra là nằm trên nhung lụa, thừa mứa tiền của, đồng tiền làm ra không có mồ hôi và nước mắt nên họ không biết quý đồng tiền. Lại thời buổi thực dụng, thực dân khuếch trương ăn chơi…

Thế là họ đua nhau quăng tiền qua cửa sổ để ăn chơi cho sướng tấm thân và tạo danh tiếng. Huỳnh Văn Phước, gọi theo tiếng Hoa là Dù Hột, sau này gọi là Bang Biện Hột, là con ông chủ Chá – một Đại Địa chủ của Bạc Liêu (Phước có người chị ruột cất ngôi chùa mà hiện nay ta gọi là chùa Cô Hai Ngó). Phước mặc bà ba soan trắng, đi giày Tàu, đội nón hồng mao (nón cao su cứng kiểu Anh, dành cho xứ nhiệt đới, làm tại Singapore), cầm gậy Nhật Bổn, hút xì-gà Ma-ní (Philippines). Một lần ngủ ở khách sạn Sài Gòn, sáng bước xuống đám xe kéo lại giành chở ông vì Phước trả tiền không cần thối lại. Phước khó xử rồi bảo: “Thôi thì đi hết”. Thế là một xe chở Phước, một xe chở đôi giày, một xe chở cái nón, xe khác lại chở cù ngoéo… Đoàn xe đi vòng chợ Sài Gòn, người ta bu đến coi, có người bảo: “Thằng cha này điên”. Nhưng đám xe kéo nói nhỏ với họ: “Công tử Bạc Liêu đó!” Thế là từ đó tiếng tăm Công tử Bạc Liêu phóng khoáng phong lưu bắt đầu nổi lên (Sau này có một số người gán ghép giai thoại trên cho Trần Trinh Huy là không đúng sự thật).

Các cậu ấm, cô chiêu đã nhanh chóng học đòi, gia nhập các mốt thời thượng lúc bấy giờ là nhảy đầm, chạy xe hơi, hút á phiện… làm nổi đình nổi đám ở Sài Gòn. Những tên tuổi nổi danh thời đó là: Dù Hột, Hai Lũy, Ba Cân, Hai Đinh… Từ đó thành ngữ Công tử Bạc Liêu ra đời. Nó nổi tiếng và tồn tại để ám chỉ một lối sống phong lưu. Hồi nửa đầu thể kỷ 20, dân Sài Gòn và lục tỉnh gọi là “nhóm Công tử Bạc Liêu” chứ không phải chỉ có Công tử Bạc Liêu như bây giờ.

Bàn thờ Gia tiên Nhà Công tử Bạc Liêu

Thế nhưng, các tên tuổi trên lập tức bị lu mờ khi Trần Trinh Huy xuất hiện. Lối sống phóng túng, phong lưu của Trần Trinh Huy đã làm nên những giai thoại như đốt tiền nấu chè… Trần Trinh Huy được mệnh danh là người “ngon” nhất Nam Bộ, là hiện thân, là linh hồn của Công tử Bạc Liêu. Hễ ai nhắc tới Công tử Bạc Liêu thì người đương thời nghĩ rằng đã chỉ đích danh Trần Trinh Huy. Vậy Trần Trinh Huy là ai, tiền tài, thế lực đến cỡ nào mà ăn chơi đến “danh bất hư truyền” như thế?

Phòng ngủ của Công tử Bạc liêu

Trần Trinh Huy là con trai thứ ba của Trần Trinh Trạch (theo cách gọi của Nam bộ), một Đại Điền chủ số một vùng Hậu Giang nếu không muốn nói cả Nam bộ. Theo sách Tây Nam bộ 30 năm kháng chiến, Trần Trinh Trạch là đại điền chủ lớn nhất Việt Nam, có ruộng ở Nam kỳ, Trung kỳ, Trần Trinh Trạch sinh năm 1872 tại Vĩnh Lợi, Bạc Liêu, chết ngày 14/3/1942, an táng tại Cái Dầy, thuộc xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi ngày nay. Khu mộ ấy dân gian thường gọi là mộ ông lớn Trạch.

Sinh thời, ông Trần Trinh Trạch sống cần kiệm, thường mặc đồ vải trắng phong phanh, ngủ riêng, ăn riêng vì bệnh suyễn kinh niên. Thế nhưng, đó cũng chính là con người gây dựng cơ nghiệp của dòng họ Trần Trinh nức tiếng Nam kỳ. Mộ ông có khắc một bài thơ trên đá hoa cương đầy kiêu hãnh:

Đất nhờ người nổi tiếng

Người nhờ đức nên danh

Nhớ tôn ông xưa

Tánh thánh thông minh

Tư trời tài trí

Lúc tuổi trẻ ra làm thư ký

Nơi pháp đình pháp lý làu thông

Đến thời kỳ quản hạt Hội đồng

Ra tranh cử một thời luôn ba khóa

Mười hai năm nghị trường ngôn luận khá

Chức Hội đồng tư vấn cũng trao ngay

Việc lợi dân ích quốc những bao ngày

Bội tinh thưởng Ngũ đắng tứ, tam, liên tiếp

Khi đấng thiên công tác hiệp

Sánh duyên cùng bá hộ Phan Công

Cuộc trăm năm kết một chữ đồng

Lo xây dựng nâng cao niềm hạnh phúc

Việc trước hết chăm lo bề cúc dục

Con trai ba, con gái có bốn người

Như huệ, lan, châu ngọc ở trên đời

Duyên phối ngẫu đẹp cỡi rồng sánh phượng

Cuộc tình nghĩa an toàn những trang cao thượng

Nào kỹ sư, đốc phủ sứ, phú hào

Cho lưỡng du bằng hữu chi giao

Đều là bậc thế gia và quyền quý

Thật trời đặt sinh tôn ông hữu ý

Hưởng sang giàu vinh hiển trọn đời

Câu ngũ phước, chữ tam gia đầy đủ

Hướng dẫn viên giới thiệu với du khách về Nhà Công tử Bạc Liêu

P.T.N