TP.HCM cần xây dựng quy hoạch tổng thể để phát triển du lịch du thuyền
Việc sáp nhập tạo ra cơ hội rất lớn cho TP.HCM để phát triển hệ thống dịch vụ và hạ tầng du lịch du thuyền. Tuy nhiên, hiện nay các sản phẩm dịch vụ còn hạn chế, thậm chí ở một số trường hợp chưa đạt chuẩn. Vì vậy, thành phố cần xây dựng quy hoạch tổng thể và lộ trình phát triển chuyên biệt, có sự tham vấn của các chuyên gia trong nước và quốc tế.
Ông Ruurd Van Putten có hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực du thuyền và bến du thuyền. Chuyển từ Hà Lan đến Việt Nam từ năm 2009, ông là một trong những chuyên gia quốc tế tiên phong khai thác thị trường còn non trẻ này, vừa với vai trò doanh nhân, vừa là cố vấn cho các dự án bến du thuyền, câu lạc bộ du thuyền và quản trị vận hành. Đến năm 2021, ông chính thức giữ vị trí Giám đốc Khu vực Đông Nam Á của Marinetek, tập đoàn quốc tế hàng đầu về giải pháp bến du thuyền và hạ tầng nổi, đơn vị đã thành công thiết kế hơn 2.500 bến du thuyền trên toàn cầu. Trao đổi với Tạp chí Du lịch TP.HCM, ông đã đưa ra nhiều nhận định cho việc phát triển ngành du thuyền tại Việt Nam nói chung cũng như tại TP.HCM nói riêng.

Ông Ruurd Van Putten
Năm 2009, ông đã bắt đầu chuyển đến Việt Nam và đăng ký chiếc du thuyền 3 thân Corsair 750 Sprint cho doanh nghiệp cho thuê du thuyền. Đó là thời điểm rất sơ khai của mảng du lịch này. Ấn tượng đầu tiên của ông khi đó thế nào?
Năm 2009, gần như không tồn tại ngành du thuyền tại Việt Nam. Đó cũng là lý do tôi và vợ quyết định rời Hà Lan sang Việt Nam để tiên phong trong lĩnh vực này. Biển, vịnh, bãi cát và các hòn đảo, đặc biệt quanh Nha Trang, có điều kiện lý tưởng cho chèo buồm và du thuyền. Khí hậu Nam Trung Bộ cũng phù hợp để khai thác mùa du thuyền kéo dài.
Chúng tôi bắt đầu rất cơ bản với vài chiếc thuyền buồm hai thân dạng nhỏ, chuyên dụng trên bãi biển của thương hiệu Hobie Cat. Dần dần, hoạt động phát triển lên đến 5 chiếc du thuyền, với toàn bộ thủy thủ đoàn là các bạn trẻ địa phương do chúng tôi trực tiếp đào tạo. Đó là một giai đoạn đầy hứng khởi, như khám phá một vùng đất mới. Nhìn lại, có thể coi đó là những bước đi đầu tiên của ngành du thuyền Việt Nam.
Sau 16 năm gắn bó với thị trường này, ông đánh giá sự khác biệt giữa giai đoạn khởi đầu và hiện nay như thế nào? Đặc biệt về cơ hội kinh doanh và cho chủ sở hữu du thuyền nước ngoài?
Ban đầu, thị trường rất nhỏ, manh mún và thiếu chuyên nghiệp. Chỉ có vài đại lý lẻ tẻ của các thương hiệu quốc tế và một số nhà sản xuất nội địa. Tuy nhiên, không có sự kết nối hay chiến lược chung để phát triển thị trường. Dần dần, tình hình được cải thiện khi nhiều người trong ngành tích lũy kiến thức, kinh nghiệm qua quá trình hợp tác, đào tạo với các chuyên gia và thương hiệu nước ngoài.
Hiện nay, dù tôi không còn trực tiếp tham gia mảng bán du thuyền từ năm 2022, tôi có thể thấy thị trường đã trưởng thành rõ rệt. Một số doanh nghiệp lớn như Tam Sơn hay Vietyacht đang cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp và bài bản hơn nhiều so với một thập kỷ trước.

Tuy nhiên, mảng cho thuê du thuyền vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tôi tin rằng các điểm đến như Nha Trang, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Hạ Long, Phú Quốc có thể có đội tàu cho thuê (charter) lớn hơn nhiều. Có thể nhà đầu tư còn e ngại vì nhiều thử thách về mặt thị trường,. bao gồm cả chi phí vận hành cao, cùng sự khan hiếm về đội ngũ thủy thủ đoàn chuyên nghiệp.
Đối với du thuyền nước ngoài và dịch vụ đại lý tại Việt Nam, tôi cho rằng tình hình không cải thiện nhiều so với trước. Các thủ tục vẫn lặp lại các vướng mắc như thời tôi còn làm đại lý cho một số du thuyền siêu sang treo cờ nước ngoài ghé Việt Nam. Khi đi công tác vòng quanh châu Á, tôi vẫn thường nghe rằng nhiều du thuyền nước ngoài có xu hướng né tránh Việt Nam, bởi có những lý do truyền miệng trong đó có dịch vụ đại lý đắt đó, dù tôi không dám chắc về tính xác thực.
Ông được biết đến nhiều ở Việt Nam với vai trò chuyên gia cố vấn về xây dựng bến du thuyền. Là người trực tiếp quản lý dự án bến du thuyền quốc tế đầu tiên tại Việt Nam - Ana Marina từ 2014, ông có thể chia sẻ những thách thức chính khiến quá trình hoàn thiện kéo dài 10 năm?
Thách thức lớn nhất là chúng tôi triển khai một loại hình hạ tầng gần như chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam. Trong quá trình xây dựng, các hạng mục như đê chắn sóng và nạo vét đòi hỏi nhiều loại giấy phép khác nhau. Tuy nhiên, do thiếu hướng dẫn rõ ràng và khung tiêu chuẩn từ cơ quan thẩm quyền khiến nhà đầu tư rất khó xác định cụ thể. Kết quả là thủ tục kéo dài, làm chậm tiến độ.. Sau khi hoàn thành, đến lượt việc cấp phép vận hành và tiếp nhận du thuyền treo cờ quốc tế thiếu rõ ràng, gây không ít khó khăn.
Một trở ngại khác là hệ phao bê tông nổi. Tại thời điểm đó, cũng chưa có khung phân loại cụ thể, trong khi quy định của Đăng kiểm Việt Nam lại không phù hợp với đặc thù loại kết cấu này. Điều này khiến dự án phát sinh thêm chi phí và chậm trễ.
Như ông phân tích, chính sách quản lý và sự chuyên nghiệp của thị trường là hai điểm thách thức chính của ngành du lịch du thuyền nói chung, bao gồm cả việc phát triển hạ tầng nền tảng như bến du thuyền?
Đúng vậy, du thuyền vốn không phải là một lĩnh vực quen thuộc của Việt Nam. Do đó, lực lượng thuyền trưởng và thủy thủ có kinh nghiệm quốc tế hiện rất thiếu. Hệ thống đào tạo trong nước còn sơ khai, chưa theo chuẩn quốc tế. Điều này cũng đúng với các cơ quan quản lý. Đơn cử, Cơ quan Đăng kiểm Việt Nam, hoạt động phân loại và đăng ký du thuyền vẫn chưa có đủ chuyên gia chuyên sâu về du thuyền, và nhiều cơ quan khác cũng thiếu kiến thức thực tiễn trong lĩnh vực này. Các yếu tố này hoàn toàn dễ hiểu vì trước đây, du thuyền chưa bao giờ là trọng tâm trong định hướng phát triển của du lịch Việt Nam.

Ở góc độ chuyên môn, tôi cho rằng Việt Nam hiện đã đạt được 70 - 80% yêu cầu để phát triển thành ngành công nghiệp du thuyền chuyên nghiệp. Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp trong nước đã có từ 5 đến 10 năm kinh nghiệm. Nhưng, khoảng cách còn rất lớn nếu ta so với bề dày 100 năm truyền thống của các chuyên gia châu Âu hay Úc. Mọi thứ đang tiến triển tích cực, nhưng để “chạm chuẩn” thực sự, Việt Nam cần hoàn thiện 20% kỹ năng và kinh nghiệm còn thiếu.
Một thách thức quan trọng khác là chính sách đối với du thuyền quốc tế. Có người đến Việt Nam bằng máy bay, xe lửa hay ô tô, nhưng cũng có những du khách đến bằng chính du thuyền của họ. Đây là nguồn khách du lịch chất lượng, chi tiêu cao mà các quốc gia đều đang săn đón. Do đó, quy định dành cho du thuyền nước ngoài cần được nới lỏng, thay vì thiếu sự ưu tiên và rõ ràng như hiện tại. Nhiều nước Đông Nam Á đã mở cửa mạnh mẽ cho nhóm khách này mà vẫn đảm bảo yếu tố an toàn, môi trường, trình độ thủy thủ đoàn và tình trạng kỹ thuật của du thuyền. Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng tương tự.
Vậy, bàn về lợi thế then chốt của Việt Nam trong việc định vị mình trong ngành du thuyền Đông Nam Á, ông có đánh giá như thế nào?
Lợi thế lớn nhất của Việt Nam chính là vị trí địa lý chiến lược và sự đa dạng điểm đến. Đất nước của các bạn nằm trên tuyến hải trình quan trọng nối giữa Hồng Kông và Singapore, hai trung tâm du thuyền lớn của châu Á. Do đó, có thể thu hút lượng lớn du thuyền quốc tế dừng chân, cùng khách du lịch cao cấp ghé chi tiêu và lưu trú.

Việt Nam sở hữu những địa điểm đẳng cấp thế giới cho các loại hình du thuyền khác nhau neo đậu. Đặc biệt, khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, từ Quy Nhơn đến Phan Rang, có đủ tiềm năng trở thành một trong những vùng đậu du thuyền hấp dẫn nhất toàn cầu, cạnh tranh ngang ngửa với Phuket, Bali hay các điểm đến nổi tiếng khác. Khí hậu thuận lợi với mùa du thuyền gần như quanh năm, gió không quá mạnh, nhiều nắng, cảnh quan tự nhiên với bãi biển, đảo, vịnh và thị trấn ven biển rất thu hút. Hạ Long, Hải Phòng, Vân Đồn là những cái tên có sức hấp dẫn riêng với hệ thống đảo, vịnh đẹp. Trong khi đó, Đà Nẵng và TP.HCM lại có hậu phương kinh tế mạnh, là nền tảng để ngành du thuyền phát triển.
Bên cạnh đó, nền kinh tế tăng trưởng nhanh cùng sự quan tâm ngày càng lớn của người dân đối với du thuyền, chèo thuyền buồm và các môn thể thao dưới nước, mở ra tiềm năng thị trường lớn trong tương lai. Đây là cơ hội tốt cho các thương hiệu du thuyền Việt Nam mới như V-Yachts, cũng như cho các doanh nghiệp nhập khẩu du thuyền và thiết bị.
Hiện nay, cùng với sự sắp xếp lại của địa chính toàn quốc, du lịch biển, trong đó có du thuyền đang là trọng tâm mới của du lịch Việt Nam thời gian tới. Với vai trò chuyên gia, ông có đề xuất nào Chính phủ Việt Nam nên có những bước đi gì để thúc đẩy ngành du thuyền và bến du thuyền?
Trước tiên, cần có quy hoạch tổng thể cấp quốc gia hoặc khu vực cho phát triển bến du thuyền. Cách làm hiện nay, tức là nhà đầu tư tự chọn vị trí rồi xin phép là không bền vững. Nhà nước nên chủ động quy hoạch và phân bổ quỹ đất, mặt nước cho bến du thuyền, tương tự như cách làm với sân bay, cảng biển hay nhà ga. Khi đó, với sự tư vấn của các chuyên gia trong và ngoài nước, những vị trí phù hợp nhất sẽ được xác định, giúp nhà đầu tư an tâm lựa chọn và triển khai.
Trên thực tế, ở nhiều quốc gia có ngành công nghiệp và du lịch du thuyền phát triển, Chính phủ đóng vai trò đối tác tích cực trong đầu tư và sở hữu bến du thuyền. Các chiến lược phát triển bến du thuyền tại Hong Kong hay Hàn Quốc là ví dụ điển hình, nơi mô hình hợp tác công - tư (PPP) được áp dụng hiệu quả, giúp nhà đầu tư chắc chắn về tính pháp lý và khả năng triển khai, qua đó bảo toàn và gia tăng giá trị vốn bỏ ra.

Song song với quy hoạch, Việt Nam cũng cần tiến tới đồng bộ hóa các tiêu chuẩn và quy định theo thông lệ quốc tế và khu vực, từ an toàn, năng lực thuyền viên, điều hướng, đăng kiểm, đăng ký du thuyền, cho đến bảo hiểm. Đây không chỉ là yêu cầu đối với du thuyền và thủy thủ quốc tế ghé thăm, mà còn là nền tảng để nâng cao chuẩn mực cho chính đội ngũ và du thuyền trong nước. Sự đồng bộ này sẽ mở cửa thị trường cho nhiều nhà đầu tư và nhà vận hành chuyên nghiệp. Từ đó, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và chuyên nghiệp hóa toàn ngành. Các tổ chức quốc tế như ICOMIA hay Marshall Island Register chắc chắn luôn sẵn sàng hỗ trợ và tư vấn Việt Nam.
Cuối cùng, chính sách thuế cũng là yếu tố cần được cân nhắc. Bài học từ Thái Lan cho thấy, khi nước này bãi bỏ thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt cho du thuyền từ năm 2024, đồng thời giảm VAT xuống 7%, ngành du thuyền đã tăng trưởng nhanh chóng. Hồng Kông, với lợi thế là cảng tự do, không đánh thuế nhập khẩu hay VAT đối với du thuyền, cũng trở thành điểm đến của một trong những đội tàu du thuyền lớn nhất khu vực.
Cần nhìn nhận rằng, du thuyền và bến du thuyền không chỉ dành cho giới thượng lưu. Đây là ngành tạo việc làm, đóng góp đáng kể cho kinh tế địa phương, cộng đồng, và thậm chí góp phần bảo vệ môi trường biển nhờ nâng cao ý thức giữ gìn đại dương trong sạch. Một khi ngành du thuyền và bến du thuyền được phát triển đúng hướng, lợi ích mà Việt Nam thu được sẽ lớn hơn nhiều so với khoản thu hiện tại từ chính sách thuế cao.
Với riêng TP.HCM, nay ở vị thế mới, từ một thành phố hướng biển thành một siêu đô thị biển, chính quyền thành phố nên ưu tiên những chiến lược, hoặc trọng tâm hành động nào để thúc đẩy phát triển du lịch du thuyền?
Việc sáp nhập tạo ra cơ hội rất lớn cho TP.HCM để phát triển hệ thống dịch vụ và hạ tầng du lịch du thuyền. Tuy nhiên, hiện nay các sản phẩm dịch vụ còn hạn chế, thậm chí ở một số trường hợp chưa đạt chuẩn. Vì vậy, thành phố cần xây dựng quy hoạch tổng thể và lộ trình phát triển chuyên biệt, có sự tham vấn của các chuyên gia trong nước và quốc tế.
Một điển hình tham khảo là Hồng Kông, nơi chính quyền đã mời gọi các bên liên quan trong ngành tham gia đối thoại bàn tròn nhằm cải thiện môi trường du thuyền và bến cảng. Tương tự TP.HCM, Hồng Kông coi du lịch du thuyền là một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch. Thông qua việc tham vấn chuyên gia, chính quyền có thể có được cái nhìn toàn diện và thực tế hơn về nhu cầu cũng như kỳ vọng của thị trường. Tại TP.HCM, nhiều doanh nghiệp du thuyền và bến cảng đã mạnh dạn đầu tư, tiên phong trong một lĩnh vực còn mới mẻ, qua đó thể hiện sự cam kết và khát vọng phát triển. Đây chính là nguồn lực mà chính quyền có thể tận dụng để xây dựng kế hoạch dài hạn, vững chắc.
Theo tôi, năm yếu tố then chốt cần được ưu tiên bao gồm việc quy hoạch vị trí xây dựng bến du thuyền, cảng hành khách và cầu tàu; quy hoạch vị trí cho các dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa; hoàn thiện khung pháp lý, quy trình cấp phép đầu tư và vận hành minh bạch; xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu cho thuyền trưởng, thủy thủ đoàn và nhân viên bến cảng và cải thiện chất lượng môi trường đường thủy, kiểm soát ô nhiễm, đồng thời tăng cường thực thi các quy định về an toàn, điều hướng và môi trường.
Khi những điều kiện nền tảng này được đáp ứng, TP.HCM sẽ thu hút được các nhà đầu tư và nhà vận hành chuyên nghiệp, từ đó đảm bảo chất lượng, an toàn và tính bền vững trong phát triển du lịch du thuyền.
Trân trọng cảm ơn ông!

Họ là những cựu chiến binh đã chiến đấu anh dũng trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, sau khi đất nước hòa bình và thống...



