Xây dựng nền tảng pháp lý mới cho siêu đô thị TP.HCM
Dự án Luật Đô thị đặc biệt không chỉ là việc bổ sung cơ chế, thẩm quyền, mà còn là xây dựng nền tảng pháp lý mới cho một siêu đô thị trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Mạnh Cường phát biểu chào mừng hội thảo. Ảnh: VIỆT DŨNG.
Sáng 22-5, UBND TPHCM tổ chức hội thảo tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, trí thức tiêu biểu về dự thảo dự án Luật Đô thị đặc biệt.
Đề xuất nhiều cơ chế mang tính đột phá, giúp TPHCM phát triển vượt trội
Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Mạnh Cường cho biết, dự thảo dự án Luật Đô thị đặc biệt gồm 9 chương, 45 điều. Dự án luật đề xuất nhiều cơ chế mang tính đột phá, giúp TPHCM phát triển vượt trội. Đây không chỉ là việc bổ sung cơ chế, thẩm quyền, mà còn là xây dựng nền tảng pháp lý mới cho một siêu đô thị trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, nhiều chính sách được đề xuất có quy mô lớn, tính chất phức tạp, tác động sâu rộng; trong đó có những nội dung chưa có tiền lệ trong thực tiễn, được các chuyên gia, ngành, cơ quan nghiên cứu, đề xuất, bổ sung và điều chỉnh.
Trên tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Phó Chủ tịch UBND TPHCM nhấn mạnh, dự thảo luật phải được hình thành bằng tư duy phát triển, kết tinh từ tri thức, kinh nghiệm và thực tiễn sâu sắc của các chuyên gia.
Lãnh đạo thành phố mong muốn các chuyên gia, nhà khoa học tập trung thảo luận, góp ý về bố cục, nội hàm dự thảo; đánh giá các chương, điều đã đầy đủ, hợp lý, bao quát hay chưa; nội dung nào cần bổ sung, điều chỉnh để bảo đảm tính khả thi khi triển khai, không để phát sinh tình trạng “tắc nghẽn” do thiếu hướng dẫn đi kèm.
Về tính phù hợp của chính sách, cần xem xét sự đồng bộ của các cơ chế đề xuất với hệ thống pháp luật hiện hành; bảo đảm chính sách đủ tính đột phá để khai thông điểm nghẽn, đồng thời kiểm soát tốt các rủi ro pháp lý về tài chính, quản lý, nhất là đối với các mô hình hoạt động và hợp tác kinh tế mới.

Dự án luật đề xuất nhiều cơ chế mang tính đột phá, giúp TPHCM phát triển vượt trội.
Lãnh đạo thành phố cũng đề nghị các đại biểu góp ý sâu về điều kiện bảo đảm để các mô hình lớn như đơn vị kinh tế hành chính, kinh tế đặc biệt (khu thương mại tự do theo Nghị quyết 260 của Quốc hội, trung tâm tài chính quốc tế theo Nghị quyết 222 của Quốc hội) và chiến lược phát triển kinh tế biển có thể phát triển mạnh mẽ.
Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh, khi được Quốc hội thông qua, Luật Đô thị đặc biệt sẽ là nền tảng pháp lý quan trọng để định hình mô hình quản trị siêu đô thị, đưa TPHCM trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học - công nghệ tầm khu vực và thế giới, hướng tới mục tiêu trở thành đô thị toàn cầu vào năm 2075. Thành phố cam kết tiếp thu nghiêm túc, đầy đủ các ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm của chuyên gia để hoàn thiện dự án luật theo kỳ vọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Nội dung cơ bản của dự thảo Luật Đô thị đặc biệt
Chương I (Quy định chung) xác định phạm vi điều chỉnh, vị trí, vai trò của đô thị đặc biệt; giải thích các khái niệm quan trọng như đô thị lấn biển, đô thị trên đảo và 3 mô hình hợp tác công - tư mới gồm: Lãnh đạo công - Quản trị tư; Đầu tư công - Quản lý tư; Đầu tư tư - Sử dụng công. Chương này cũng đặt ra nguyên tắc phân quyền triệt để, toàn diện, phân định rõ thẩm quyền giữa HĐND, UBND và Chủ tịch UBND TPHCM trong các lĩnh vực, trừ quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo, gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực.

Các cơ chế đề xuất với hệ thống pháp luật hiện hành; bảo đảm chính sách đủ tính đột phá để khai thông điểm nghẽn, đồng thời kiểm soát tốt các rủi ro pháp lý.
Chương II (quy định về tổ chức chính quyền, chế độ công vụ và ban hành văn bản quy phạm pháp luật) trong đó có các cơ chế đặc thù về tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác với quy định của Trung ương để phù hợp yêu cầu thực tiễn, cơ chế thí điểm chính sách mới trong thời hạn không quá 5 năm và có thể gia hạn không quá 5 năm.
Chương III (quy định về quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị và trật tự, an toàn đô thị) mở rộng thẩm quyền quản lý, khai thác không gian ngầm, không gian tầm thấp và tầm cao; phát triển đô thị và nhà ở trong đó có các mô hình đô thị ven sông, đô thị trên đảo, đô thị lấn biển, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD); đồng thời quy định các cơ chế về hạ tầng giao thông, vận tải, logistics và trật tự, an toàn đô thị.
Chương IV (quy định về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội) gồm các cơ chế phát triển doanh nghiệp nhà nước, kinh tế biển, các loại hình kinh tế mới, khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, khu chế xuất, khu công nghiệp, hạ tầng và công nghiệp năng lượng; đồng thời có cơ chế đặc thù về văn hóa, thể thao, du lịch, kinh tế ban đêm, giáo dục, y tế và an sinh xã hội.

Sẽ có cơ chế đặc thù về du lịch.
Chương V (Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số) tạo hành lang pháp lý cho thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), Quỹ Đầu tư mạo hiểm và phát triển các khu công nghệ cao, đô thị khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo.
Chương VI (Nguồn lực phát triển Đô thị đặc biệt) quy định các cơ chế tự chủ tài chính - ngân sách; mở rộng thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư; quản lý, khai thác tài sản công và tài nguyên; thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút, ưu đãi đầu tư.
Chương VII (Liên kết, phát triển vùng và bảo vệ môi trường) xác định Vùng đô thị đặc biệt TPHCM, mục tiêu và nguyên tắc liên kết vùng; cơ chế đầu tư, quản lý các dự án liên kết phát triển vùng; bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong vùng đô thị đặc biệt.
Chương VIII (Giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình) quy định trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền Thành phố trong giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm và cơ chế loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý.
Chương IX (Điều khoản thi hành) quy định hiệu lực thi hành và các điều khoản chuyển tiếp.


