Số hóa di sản: Thách thức chủ quyền, tác quyền và quản trị
Để di sản được phát huy tối ưu, khai thác có trách nhiệm trong không gian số cần có một cơ chế phối hợp liên ngành, có khung pháp lý, tiêu chuẩn minh bạch.
Ngày 28/5/2026, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Văn phòng UNESCO tại Việt Nam, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Đại học Fulbright Việt Nam và Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học cấp quốc gia “Di sản với chuyển đổi số: Thách thức và cơ hội”.
Quy tụ đại diện các hiệp hội chuyên ngành, gần 20 bảo tàng trên cả nước, cùng các viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia văn hóa, hội thảo mở ra nhiều trao đổi về thách thức, cơ hội trong công cuộc đưa dữ liệu di sản vào không gian số.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng liên quan đến chuyển đổi số quốc gia, phát triển công nghiệp văn hóa, và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển bền vững.
Nổi bật là Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030", Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, cùng Quyết định số 2026/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030. Những văn kiện mang tính khung pháp lý này cho thấy chuyển đổi số với các ngành văn hóa hiện nay đã trở thành mũi nhọn, chiến lược trọng tâm trong định hướng phát triển quốc gia.
Số hóa di sản không còn là một xu hướng nhất thời mang tính thử nghiệm, mà là một hành động thực tiễn đang diễn ra sâu rộng. Hiện nay, nhiều bảo tàng, thư viện, trung tâm lưu trữ, khu di tích và các thiết chế văn hóa trên cả nước đã bắt đầu ứng dụng công nghệ số trong hoạt động chuyên môn.
Các công tác như số hóa hiện vật, xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển bảo tàng số, tổ chức triển lãm trực tuyến, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR) và các nền tảng tương tác số đang được triển khai đồng bộ. Những chuyển động này góp phần đưa di sản đến gần hơn với cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ; đồng thời mở ra khả năng kết nối di sản với giáo dục, du lịch, truyền thông và các ngành công nghiệp văn hóa hiện đại.
Ở góc độ bảo tồn, số hóa trước hết là một cơ hội lớn. GS.TS. Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, nhắc lại một thực tế nhiều nhà nghiên cứu từng trải qua. Ông nói: “Vào những năm 60, 70, khi chúng tôi đi nghiên cứu thì còn mơ ước làm sao có được một cái máy ghi âm kỹ thuật số, hay một chiếc máy ảnh, một máy quay phim. Nếu có thì biết bao nhiêu giá trị văn hóa truyền thống chúng ta đã ghi được”.
Câu chuyện ấy cho thấy công nghệ có thể trở thành công cụ cấp thiết để gìn giữ những gì đang biến mất cùng thời gian.Tuy nhiên, chính khi số hóa mở ra khả năng lưu giữ và tái tạo di sản, các chuyên gia cũng cảnh báo rằng di sản số không phải là một bản sao trung tính của di sản gốc.
Khi một hiện vật, bài hát, biểu tượng, nghi lễ hay câu chuyện dân gian được chuyển thành dữ liệu, nó bước vào một không gian mới, nơi dữ liệu có thể được sao chép, chỉnh sửa, phân phối, tái sử dụng và thương mại hóa. Từ đây, vấn đề không chỉ thuộc phạm vi kỹ thuật, mà rộng hơn, liên quan bài toán quyền lực văn hóa trong môi trường số.

GS.TS. Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam chia sẻ cơ hội lớn trong công cuộc số hóa di sản
Nghịch lý thể chế và thách thức lớn về chủ quyền dữ liệu
Mặc dù kho tàng dữ liệu số hóa đang tăng trưởng với tốc độ nhanh chóng, thực tế quản trị tại Việt Nam lại bộc lộ những khoảng lệch lớn.
Thông qua bài tham luận "Khi di sản trở thành dữ liệu: khủng hoảng quyền lực và nghịch lý thể chế trong chuyển đổi số", Ths. Vũ Thị Thu Hương thuộc Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra một nghịch lý thực tế: “Trong nhiều năm qua, chuyển đổi số di sản được nhìn như một bài toán công nghệ. Chúng ta đầu tư AI, thực tế ảo, dữ liệu 3D, nền tảng số hóa. Nhưng có một nghịch lý nó đang xuất hiện đó là tốc độ sản xuất dữ liệu đang vượt xa tốc độ cải cách thể chế. Khoảng trống lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ, mà nằm ở quản trị.”
Đây là một thực trạng nổi cộm, dữ liệu được tạo ra liên tục nhưng thiếu chuẩn chung, thiếu cơ chế liên thông, thiếu giao thức chia sẻ, thiếu khung pháp lý về phân phối lợi ích và trách nhiệm giải trình, một hệ thống dù hiện đại về công nghệ vẫn có thể yếu về năng lực kiểm soát.

Ths. Vũ Thị Thu Hương thẳng thắn nhìn nhận thách thức chủ quyền dữ liệu di sản số
Thách thức này tạo ra hệ lụy mà Ths. Vũ Thị Thu Hương gọi là "vòng lặp thất bại ba tầng". Ở tầng thứ nhất là dữ liệu không kiểm soát, được tạo ra ồ ạt nhưng thiếu quy tắc kiểm soát. Ở tầng thứ hai là kiểm soát không tích hợp, biến mỗi đơn vị dữ liệu riêng rẽ thành các đảo dữ liệu cô lập. Ở tầng thứ ba là tích hợp không quản trị, nghĩa là ngay cả khi kết nối kỹ thuật tồn tại, hệ thống vẫn thiếu cơ chế phân quyền, trách nhiệm giải trình và quy tắc phân phối lợi ích.
Chính khoảng trống này, theo Ths. Vũ Thị Thu Hương, đặt di sản vào thách thức lớn hơn là có thể “biến mất ngay trong quá trình được số hóa” nếu quyền kiểm soát ý nghĩa, quyền truy cập, kiểm soát giá trị và cơ chế phân phối dữ liệu không còn nằm trong tay những chủ thể có trách nhiệm. Vì khi một hiện vật nằm trong bảo tàng có thể được xác định tương đối rõ về nơi lưu giữ, đơn vị quản lý và bối cảnh trưng bày.
Nhưng khi hiện vật ấy trở thành dữ liệu, nó có thể xuất hiện trên nhiều nền tảng, trong nhiều sản phẩm, với nhiều cách diễn giải khác nhau. Nếu không có cơ chế quản trị, quyền lực văn hóa có thể rời khỏi không gian bảo tồn để chuyển sang các hệ thống kỹ thuật, nền tảng số hoặc chủ thể khai thác dữ liệu. Từ đó, rủi ro gây mất chủ quyền di sản và thay đổi cán cân quyền lực văn hóa. Nếu thế kỷ trước tranh chấp chủ yếu diễn ra ở lãnh thổ vật lý, thì trong kỷ nguyên số này, tranh chấp văn hóa sẽ diễn ra trên hạ tầng dữ liệu.
Bên cạnh chủ quyền dữ liệu, quyền lực kiểm soát, năng lực bảo tồn giá trị di sản cũng đang bị đe dọa nếu số hóa ồ ạt thiếu đi thể chế. Ở bài tham luận của mình, TS. Vũ Thị Việt Nga, trường đại học Nguyễn Tất Thành cũng cảnh báo rằng nếu không được kiểm soát, công nghệ có thể “biến biểu tượng thiêng liêng thành công cụ giải trí hời hợt và làm xói mòn giá trị giáo dục”. Trong môi trường số, nội dung dễ lan truyền thường là những phiên bản dễ tiêu thụ, dễ xem, dễ chia sẻ.
Khi deepfake, AI tạo sinh hoặc các công cụ phục dựng số có thể làm sống lại nhân vật lịch sử, mô phỏng nghi lễ, tái tạo giọng hát hoặc tạo ra phiên bản mới của một biểu tượng văn hóa, ranh giới giữa bảo tồn và hư cấu trở nên mong manh. Nếu không được kiểm soát, chúng ta phải đối mặt với nguy cơ biến các biểu tượng thiêng liêng thành công cụ giải trí hời hợt và làm xói mòn giá trị giáo dục. Một thách thức khác được bà nêu ra là sự lệ thuộc vào hạ tầng công nghệ và các công cụ AI chủ yếu đến từ những tập đoàn công nghệ phương Tây.
Khi thuật toán, nền tảng và hệ dữ liệu huấn luyện được thiết kế từ những hệ quy chiếu khác, nguy cơ thiên kiến văn hóa là có thật. Nếu không cẩn trọng, việc số hóa có thể vô tình áp đặt thị hiếu bên ngoài lên di sản địa phương, làm mờ những sắc thái đặc thù của văn hóa Việt Nam.

Bài trình bày của TS Vũ Thị Việt Nga đưa ra thách thức về làn ranh mờ giữa hư cấu và giá trị thật của di sản trong đời sống số
Mê cung thách thức về sở hữu trí tuệ và tác quyền trong sản phẩm phái sinh
Bên cạnh thách thức chủ quyền dữ liệu và bảo tồn giá trị di sản, vấn đề sổ hữu trí tuệ, tác quyền cũng được bàn luận sôi nổi tại hội thảo. Ths. Trần Ngọc Nguyệt Quế đã đưa ra một thách thức cụ thể khi thực hiện dự án phát triển thư viện số văn hóa S Gallery, một dự án phối hợp giữa Sở Văn hóa và Sở Khoa học Công nghệ nhằm tăng tốc công nghiệp văn hóa thành phố. Nữ thạc sĩ bày tỏ sự trăn trở về việc phải chi trả tác quyền đối với nhóm sinh viên đang thực hiện những sản phẩm phái sinh, đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng di sản để di sản số hóa, lan tỏa hợp thời chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động số hóa thô.
Đây là hướng đi cần thiết nếu muốn di sản tiếp tục sống trong đời sống của người trẻ. Nhưng cũng chính ở đây, tác quyền trở thành một mê cung. Khi một biểu tượng cổ được thiết kế lại thành linh vật mới, sản phẩm đó thuộc về ai? Khi tư liệu Hán Nôm được chuyển hóa thành infographic hay board game, đâu là quyền của người sáng tạo mới, đâu là quyền của đơn vị lưu giữ tư liệu, đâu là phần thuộc về di sản chung? Khi dữ liệu được mở cho cộng đồng, nên mở đến mức nào, chỉ cho xem, cho tải xuống, cho chỉnh sửa hay cho khai thác thương mại? Cơ chế trả tác quyền cho người sáng tạo thực hiện thế nào?
Vấn đề tác quyền phái sinh càng trở nên phức tạp hơn khi có sự can thiệp của trí tuệ nhân tạo. PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm, phó chủ tịch Hội âm nhạc Tp.HCM làm rõ thách thức này qua dự án hai học sinh lớp 11 trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong ứng dụng AI, đưa dữ liệu về Đờn ca tài tử vào hệ thống để tạo ra những sáng tác mới mà bà đóng vai trò tư vấn chuyên môn năm 2024.
Từ trường hợp ấy, bà đặt ra câu hỏi: “Cái mà con AI đó tạo ra, bản quyền của ai?”. Câu hỏi tiếp tục được mở rộng: bản quyền thuộc về hai học sinh tạo ra sản phẩm, thuộc về công ty làm ra phần mềm AI, hay thuộc về “ông bà mình”, tức truyền thống Đờn ca tài tử đã cung cấp chất liệu văn hóa cho sản phẩm ấy?

PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm đặt ra trăn trở về vấn đề tác quyền khi Ai bước vào câu chuyện số hóa di sản
PGS.TS. Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, góp thêm quan điểm về vấn đề tác quyền từ nền tảng sở hữu trí tuệ. Là một trong những người đầu tiên thành lập bộ môn Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, theo ông, cốt lõi của bảo hộ sở hữu trí tuệ là bảo hộ sáng tạo trí tuệ của con người.
Nhưng trong lĩnh vực di sản, sáng tạo không chỉ nằm ở tác phẩm mới được tạo ra hôm nay. Nó còn gắn với ký ức, thực hành, biểu tượng và tri thức được truyền qua nhiều thế hệ. Vì vậy, bảo vệ tác quyền di sản không chỉ để thu phí hay phân chia lợi ích kinh tế, mà còn để khuyến khích sáng tạo có trách nhiệm và tránh việc khai thác di sản như một nguồn nguyên liệu vô chủ cũng như bảo đảm rằng cộng đồng, nghệ nhân, nhà nghiên cứu hoặc đơn vị lưu giữ tư liệu không bị loại khỏi chuỗi giá trị mới.

PGS.TS. Vũ Tuấn Hưng đưa ra quan điểm nhìn nhận bảo hộ sở hữu trí tuệ là bảo hộ sáng tạo trí tuệ của con người, gắn cùng các chủ thể liên quản di sản từ quá khứ đến hiện tại
Vì vậy, nếu muốn công nghiệp văn hóa phát triển từ nền tảng di sản, tác quyền không thể là phần xử lý sau cùng. Nó phải được đặt ngay từ đầu trong thiết kế dữ liệu, thiết kế nền tảng và thiết kế cơ chế khai thác.
Đề xuất: Thay đổi tư duy, thiết kế cơ chế quản trị, khung thể chế
Từ các ý kiến tại hội thảo, các đại biểu phần lớn thống nhất đề xuất giảm thiểu thách thức, rủi ro khi số hóa di sản không phải là bổ sung thêm công nghệ, mà cần nhìn nhận lại giá trị của dữ liệu di sản số và thiết kế cách quản trị di sản trong không gian số.
Trước hết là tiêu chuẩn dữ liệu quốc gia. TS. Vũ Thị Việt Nga đề xuất thiết lập chuẩn dữ liệu để ngăn chặn tình trạng phân mảnh thông tin, giúp các di sản, di tích và thiết chế văn hóa có thể kết nối thành một mạng lưới đồng bộ. Đây là điều kiện nền tảng. Nếu mỗi nơi số hóa theo một cách, dữ liệu sẽ khó liên thông, khó kiểm chứng và khó quản lý quyền sử dụng.
Tiếp theo là khuôn khổ pháp lý về sở hữu số và chia sẻ lợi ích. Dữ liệu di sản không thể được xem như những tệp tin kỹ thuật đơn thuần. Nó là tài nguyên văn hóa, có thể tạo ra giá trị giáo dục, du lịch, sáng tạo và thương mại. Vì vậy, cần xác định rõ quyền sở hữu, quyền khai thác, trách nhiệm ghi nhận nguồn gốc và cơ chế phân phối lợi ích. Đây cũng là cách để tránh tình trạng tài nguyên văn hóa quốc gia bị khai thác một chiều bởi các nền tảng hoặc chủ thể thương mại mà không có sự hoàn trả tương xứng.
ThS. Vũ Thị Thu Hương đề xuất nhìn dữ liệu di sản như một hạ tầng quyền lực, từ đó xây dựng mô hình quản trị dữ liệu đa tầng. Trong mô hình này, Nhà nước không chỉ là cơ quan quản lý mà phải đóng vai trò kiến trúc sư thể chế. Hạ tầng dữ liệu, kiến trúc quyền lực và hệ sinh thái giá trị phải được thiết kế cùng nhau. Thiếu hạ tầng, dữ liệu không kết nối. Thiếu kiến trúc quyền lực, dữ liệu dễ bị chiếm hữu cục bộ. Thiếu hệ sinh thái giá trị, dữ liệu có thể bị trích rút một chiều bởi nền tảng.
Cùng với đó là phân luồng tiếp cận dữ liệu di sản. Đây là đề xuất có giá trị thực tiễn từ phía Ths. Trần Ngọc Nguyệt Quế, hướng đến xác định các cấp độ tiếp cận khác nhau cho giáo dục, nghiên cứu, sáng tạo phi thương mại, khai thác thương mại và những trường hợp cần giới hạn. Phân luồng không phải để cản trở sáng tạo, mà để sáng tạo diễn ra trong một hành lang rõ ràng, có ghi nhận và có trách nhiệm.
Cuối cùng là đầu tư vào con người. TS. Vũ Thị Việt Nga nhấn mạnh đội ngũ làm văn hóa không chỉ cần kỹ năng bảo tồn, mà còn cần hiểu đạo đức AI và tư duy quản trị dữ liệu. Đây là điều kiện then chốt. Nếu người làm di sản không nắm được logic dữ liệu, tác quyền và nền tảng số, họ sẽ khó giữ vai trò chủ động trong chính quá trình số hóa di sản mình quản lý.
Song song với các định hướng vĩ mô, hội thảo cũng ghi nhận những thách thức trực tiếp đối với các hướng dẫn viên và các bảo tàng trong việc đổi mới sáng tạo, thay đổi phương thức tiếp cận nhằm bắt kịp thời thế, đồng thời phải duy trì và bảo toàn giá trị cốt lõi của di sản ở mặt vật lý.
Với những bài tham luận giàu giá trị, chia sẻ có tính ứng dụng ,hội thảo đã hoàn thành mục tiêu như PGS. TS. Lâm Nhân (Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM) đề ra ban đầu: tạo ra không gian cho các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, các nhà quản lý, các tổ chức văn hóa cùng trao đổi, cùng chia sẻ kinh nghiệm, cập nhật xu hướng mới và đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn số hóa di sản Việt Nam, ở cả góc độ thực tiễn và văn hóa.

PGS. TS. Lâm Nhân (Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM) phát biểu định hướng hội thảo


