TÌM HIỂU VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH

Lá cờ “cầu vồng” lục sắc (rainbow flag) biểu tượng của Cộng đồng chuyển giới (LGBT Community) được phất lên lần đầu tiên năm 1978 tại cuộc diễu hành ngày “Gay Freedom Day” ở San Francisco, lại vừa được phất cao tại Thủ đô Washington ngày 26 tháng 6 năm 2015 vừa qua để đón chào một phán quyết lịch sử của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ công nhận Hôn nhân đồng giới trên toàn nước Mỹ. Để hiểu được niềm vui vỡ òa này của Cộng đồng chuyển giới toàn thế giới, trong đó có những người chuyển giới Việt Nam, hãy tìm hiểu thêm về vấn đề Chuyển đổi giới tính.

SỰ HÌNH THÀNH GIỚI TÍNH

Giới tính của một cá thể người được tạo thành do sự kết hợp các nhiễm sắc thể giới tính của cha và mẹ. Bình thường trong mỗi tế bào sinh dục cha và mẹ mang 22 đôi nhiễm sắc thể thường và một đôi nhiễm sắc thể giới tính: XX của giao tử cái và XY của giao tử đực. Sự kết hợp X-Y sẽ tạo thành giống đực và kết hợp X-X sẽ tạo thành giống cái. Tuy  nhiên trong quá trình phát triển phôi thai, sự hình thành cơ quan sinh dục còn phải trải qua giai đoạn trung tính trước khi hình thành giới tính nam và nữ. Vào tuần thứ 4 của phôi thai các tế bào sinh dục nguyên thủy của lá trung bì tạo thành mầm của tuyến sinh dục. Giai đoạn đầu khi chưa biệt hóa, hình dạng và cấu trúc cơ quan sinh dục chưa phân biệt được giới tính nam hay nữ gọi là giai đoạn trung tính. Giai đoạn này kéo dài kéo dài đến tuần thứ 8 khi các mầm cơ quan sinh dục bắt đầu tạo thành các cơ quan sinh dục riêng của nam và nữ. Tuy nhiên hiện nay người ta có thể tực hiện sớm những xét nghiệm về di truyền để đánh giá chẩn đoán nguy cơ khuyết tận ở thai nhi như làm nhiễm sắc thể đồ Karyotyping là xét nghiệm bộ nhiễm sắc thể trên mẫu tế bào để xác định rối loạn di truyền gây nên dị tật. Đến tháng thứ 4 của thai nhi mới có thể phân biệt được cơ qua sinh dục nam và nữ trên hình ảnh siêu âm. Cũng vào tuần thứ 8 gen biệt hóa tinh hoàn hoạt động, tế bào Sertoloi của tinh hoàn tiết một hormone làm teo ống Muller, các tế bào Leydig ở tinh hoàn hoạt động tiết ra testosterone kích thích sự tạo thành và hoàn thiện các cơ quan sinh dục của nam. Ở nữ không có gen biệt hóa tinh hóa nên ống Muller không bị teo đi mà phát triển thành tử cung, âm đạo. Đến tuần thứ 38 thì các bộ phận của cơ quan sinh dụ kể cả các tuyến nội tiết đã hình thành đầy đủ và chờ sự chào đời của các bé. Trong quá trình phát triển hoàn thiện cơ quan sinh dục ở thai nhi, có thể xảy ra những bất thường dị dạng như: thiếu tinh hoàn, thừa tinh hoàn, dính tinh hoàn, tinh hoàn lạc chỗ (nằm trong ổ bụng, ống bẹn…thiếu túi tinh, thiếu ống phóng tinh, ống dẫn tinh thông vào niệu đạo, …thiếu thừa buồng trứng, buồng trứng lạc chỗ, tịt vòi trứng, teo tử cung, teo âm đạo, tử cung kép, âm đạo kép, không có âm đạo, hẹp âm hộ (2 môi nhỏ dính nhau), màng trinh quá dầy, trực tràng niệu đạo thông vào âm đạo, v.v…

XÁC ĐỊNH GIỚI TÍNH

Sau khi chào đời và trưởng thành, cơ quan sinh dục vẫn tiếp tục hoàn thiện cho đến tuổi dậy thì, nên giới tính mỗi người cũng phải qua tuổi dậy thì mới có thể xác định một cách rõ ràng. Căn cứ để xác định giới tính một người là cơ quan sinh dục hành vi tính dục. Nhưng không phải bao giờ hai yếu tố này cũng song hành với nhau. Từ xa xưa loài người đã biết đến những biểu hiện tính dục không phù hợp với “ngoại hình” của cơ quan sinh dục. Ở người trưởng thành cơ quan sinh dục có thể Thậm chí điều này không chỉ có ở người mà còn có ở cấc loài động vật có quan hệ tình dục theo kiểu đực-cái. Dựa vào hành vi tính dục, các khuynh hướng tình dục của con người được phân ra các loại: Tình dục khác giới (dị giới, dị tính) – Heterosexualism (Thích quan hệ tình dục với người khác giới); Tình dục đồng giới (đồng tính luyến ái)– Homosexualism (Gay, Lesbian) ( Thích quan hệ tình dục với người đồng cùng giới); Tình dục lưỡng giới (song tính luyến ái) – Bisexualism (Thích quan hệ tình dục cả 2 giới); Không tình dục (vô tính luyến ái) – Asexual (Không thích quan hệ tình dục).

Trong đó trường hợp Tình dục khác giới là hiện tượng sinh lý bình thường theo truyền thống của những người có cơ quan sinh dục phát triển hoàn thiện. Những người có cơ quan sinh dục phát triển bất thường như thừa hay thiếu bộ phận nào đóhoặc có cả bộ phân sinh dục của phái khác được coi là những người có khuyết tật cơ quan sinh dục cần được phẫu thuật để hoàn thiện theo giới tính tự nhiên gọi là  Xác định lại giới tính (Gender Reassigment), đượcLuật pháp các nước cho phép kể cả Việt Nam.Các trường hợp có cơ quan sinh dục bình thườngmà có khuynh hướng tình dục bất thường gây khó khăn cho việc nhận dạng giới tính được gọi là Rối loạn định dạng giới tính (Gender Identity Disorder). Những người có sự bất thường này được gọi chung là Người chuyển giới (Transgender, Transsexualism) Công đồng chuyển giới  gồm các thành phần Lesbian, Gay, Bisexual, Transsexual (LGBT community) (mà lâu nay ở Việt Nam vẫn gọi một cách chưa chính xác là Cộng đồng đồng giới) đã được công nhận ở nhiều nước và có cả lá cờ “cầu vồng” làm biểu tượng tập hợp. Cũng nên hiểu rõ là khái niệm chuyển đổi giới tính chỉ dành cho những người đã có phẫu thuật chỉnh sửa cơ quan sinh dụckể cả bằng liệu pháp sử dụng hormonetheo giới tính mong muốn, còn khái niệm chuyển giới dành cho những người thích thể hiện giới tính khác bằng trang phục (transvestism, cross-dress)  hay bằng hành vi (transqueer). Từ năm 1950 nhà Nội tiết học Tình dục học người Mỹ gốc Đức Harry Benjjaminh, đã đề nghị tách biệt hai khái niệm Giới tính (Sex Identity) và  Khuynh hướng tình dục Sex orientation). Ông cho rằng khuynh hướng tình dục của mỗi người hoàn

toàn  độc lập với giới tính. Ông cũng nhấn mạnh đó là hai thuộc tính tự nhiên của con người cần được nhìn nhận và tôn trọng. Một người có cơ quan sinh dục của phái này có thể có khuynh hướng hấp dẫn tình dục với người khác phái hay cùng phái cũng là một điều tự nhiên. Các Rối loạn định dạng giới tính được coi là bệnh lý và cần được điều trị như mọi bệnh lý khác ở người bình thường. Tại Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 phiên bản 2015, Rối loạn định dạng giới tính được xếp vào mục Rối loạn phát triển thần kinh, hành vi và tâm thàn mang mã số F64.1 Cũng chính Benjamin là người phát hiện ra công dụng của các hormone giới tính và đề xuất việc sử dụng hormone như một giải pháp điều trị (hormonal therapy) cho người chuyển giới. Từ các đề xuất khoa học của Benjamin, năm 1979 đã ra đời một qui chuẩn điều trị cho người chuyển giới mang tên Standard of Care (SOC)  for Gender Identity Disorder của Hiệp Hội Chuyển giới Quốc tế mang tên ông  Đây cũng là cơ sở của cho Qui chuẩn phẫu thuật chuyển giới của Hiệp Hội Thế giới về Sức khỏe Chuyển giới (WPATH) đang được áp dụng hiện nay trên toàn thế giới. Ở Việt Nam những người đồng tính luyến ái nam còn được gọi là Pê-đê bắt nguồn từ chữ Pédéraste trong tiếng Pháp chỉ những người thích quan hệ đồng giới nam nhất là với trẻ em nam (Pubersence boy). 

Bác sĩ Cao Ngọc Bích

                                    Phó Chủ  tịch Hội Phẫu thuật Thẩm mỹ TP HCM

                                    Trưởng Khoa Phẫu thuật Thẩm mỹ BV An Sinh

Kỳ tới: Tìm hiểu về Phẫu thuật chuyển đổi giới tính