Từ Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị tới phát huy vai trò của giáo dục và đào tạo trong xây dựng ý thức xã hội mới ở Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay

Trong bài viết này dưới góc độ tiếp cận từ triết học Mác – Lênin tác giả đã: 1). Những nội dung cốt lõi trong Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; 2). Vai trò của giáo dục đào tạo trong xây dựng ý thức xã hội mới ở Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay.

Tóm tắt: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra việc phát triển con người không chỉ dừng ở việc bảo đảm những tiền đề tự nhiên (sinh học) tối thiểu, mà phải vươn tới sự trưởng thành đồng bộ của các năng lực mang phẩm chất người – từ năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo, đến năng lực cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và làm chủ bản thân. Trong bài viết này dưới góc độ tiếp cận từ triết học Mác – Lênin tác giả đã: 1). Những nội dung cốt lõi trong Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; 2). Vai trò của giáo dục đào tạo trong xây dựng ý thức xã hội mới ở Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay.

Từ khóa: Nghị quyết số 71-NQ/TW; giáo dục và đào tạo; ý thức xã hội mới Việt Nam

tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 1

Đặt vấn đề

1. Những nội dung cốt lõi trong Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình giáo dục toàn cầu, Việt Nam đứng trước vận hội lịch sử, đòi hỏi một cú hích về thể chế, nguồn lực và mô hình để kiến tạo thế hệ công dân Việt Nam mới: yêu nước, có bản lĩnh, tri thức, kỹ năng và sức khỏe, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Nghị quyết 71-NQ/TW đã khẳng định giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, là quốc sách hàng đầu và phải thực sự trở thành động lực then chốt cho phát triển bứt phá. Nghị quyết nhìn thẳng vào những tồn tại: cơ hội tiếp cận giáo dục còn thấp so với các nước phát triển và chênh lệch giữa vùng miền, nhóm đối tượng vẫn lớn; đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất, trường lớp ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu; hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp phát triển phân tán, lạc hậu, chưa đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao; nội dung, chương trình còn bất cập; hiện tượng tiêu cực và bệnh hình thức còn phổ biến; giáo dục đạo đức, thể chất, thẩm mỹ chưa được coi trọng đúng mức.

tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 2tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 3

Nghị quyết 71-NQ/TW đã khẳng định giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, là quốc sách hàng đầu.

Nghị quyết 71-NQ/TW xác lập hệ quan điểm chỉ đạo có tính kết cấu. Trước hết là nhận thức sâu sắc và thực thi nhất quán nguyên tắc “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược, kiến tạo phát triển, bảo đảm nguồn lực và công bằng trong giáo dục, đồng thời huy động trách nhiệm và sự tham gia giám sát của toàn xã hội.

Xây dựng xã hội học tập được coi là đòn bẩy văn hóa: khơi dậy truyền thống hiếu học, đề cao học tập suốt đời, tự học và học thường xuyên để phục vụ phát triển nhanh và bền vững. Sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội là nguyên tắc vận hành; người học là trung tâm và chủ thể của quá trình giáo dục; nhà trường là nền tảng; nhà giáo là động lực quyết định chất lượng. Cùng với việc kiên quyết chấn chỉnh tiêu cực, Nghị quyết nhấn mạnh trân trọng danh dự người thầy, thực hiện “thầy ra thầy, trò ra trò” trên cả phương diện đạo đức, nhân cách, tri thức.

Song hành với đó là yêu cầu dung hòa giữa tính toàn dân và tinh hoa, giữa phát triển toàn diện và chuyên sâu, giữa bản sắc dân tộc và chuẩn mực toàn cầu. Giáo dục phải phát triển trên nền văn hóa và giá trị truyền thống Việt Nam, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại, chuẩn quốc tế để đào tạo công dân Việt Nam có năng lực hội nhập.

Tính thực học được đề cao: “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, “nhà trường gắn liền với xã hội”. Mầm non và phổ thông là nền tảng hình thành nhân cách, phẩm chất, năng lực; giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao; giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, đồng thời dẫn dắt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 4

Nghị quyết 71-NQ/TW đề cao tính thực học: “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, “nhà trường gắn liền với xã hội”.

Tất cả chỉ có thể bứt phá nếu bắt đầu từ đổi mới tư duy và thể chế, tạo không gian và động lực mới cho phát triển, với nguyên tắc đầu tư công dẫn dắt, xã hội hóa nguồn lực đi đôi với bảo đảm vai trò chủ đạo của giáo dục công lập; giáo dục ngoài công lập là thành phần quan trọng, trong một hệ thống mở, liên thông, công bằng, bình đẳng về cơ hội học tập.

Những mốc kiểm chứng tiến độ và chất lượng, đến năm 2030, tối thiểu 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hoàn thành phổ cập mầm non cho trẻ 3-5 tuổi và giáo dục bắt buộc đến hết trung học cơ sở; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành trung học phổ thông hoặc tương đương, không tỉnh, thành nào dưới 60%. Ở bậc sau trung học, phấn đấu 50% thanh niên theo học các trình độ sau THPT; 24% lực lượng lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên.

Về chuẩn cơ sở, 100% cơ sở giáo dục đại học và tối thiểu 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia, trong đó 20% đạt mức hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á. Cơ cấu ngành học hướng mạnh vào khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, tối thiểu chiếm 35%; quy mô đào tạo tinh hoa thể hiện ở mục tiêu ít nhất 6.000 nghiên cứu sinh và 20.000 người học các chương trình tài năng. Trên bình diện xếp hạng, mục tiêu là ít nhất 8 đại học vào nhóm 200 châu Á và ít nhất 1 đại học lọt nhóm 100 hàng đầu thế giới theo lĩnh vực.

Tầm nhìn trung và dài hạn tiếp tục nâng chuẩn hội nhập: đến năm 2035, phấn đấu có tối thiểu 2 cơ sở giáo dục đại học vào nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới theo lĩnh vực; đến năm 2045, đạt ít nhất 5 cơ sở. Các mốc này phản ánh khát vọng nâng tầm hệ sinh thái đại học – nghiên cứu của Việt Nam, qua đó gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo.

Chuyển đổi số toàn diện và ứng dụng sâu công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trở thành phương thức tổ chức và nâng cao chất lượng dạy và học, quản trị và đánh giá. Nền tảng nhân lực – vật lực được củng cố bằng chiến lược xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ số lượng, vững chất lượng, chuẩn hóa cơ sở vật chất trường lớp, ưu tiên nâng cao chất lượng mầm non và phổ thông. Ở trục kỹ năng, giáo dục nghề nghiệp được cải cách, hiện đại hóa để tạo đột phá về lực lượng lao động kỹ năng cao. Ở trục tri thức, giáo dục đại học được hiện đại hóa và nâng tầm để phát triển nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng, thu hút nhân tài, đồng thời đóng vai trò đầu tàu nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Cuối cùng là mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng, tận dụng chuẩn mực, mạng lưới và nguồn lực toàn cầu để tăng tốc chuyển đổi chất lượng.

tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 5

Để hiện thực hóa các mục tiêu, Nghị quyết đưa ra những nhóm nhiệm vụ – giải pháp. Trước hết là nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động, củng cố quyết tâm chính trị cho đột phá giáo dục, trong đó nhấn mạnh vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của tổ chức đảng, đặc biệt là người đứng đầu cơ sở giáo dục; với cơ sở công lập (trừ trường có thỏa thuận quốc tế), không tổ chức hội đồng trường; bí thư cấp ủy kiêm người đứng đầu cơ sở giáo dục để thống nhất chỉ huy, tăng cường trách nhiệm giải trình. Tiếp theo là đổi mới mạnh mẽ thể chế, kiến tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho giáo dục và đào tạo. Nội dung giáo dục được định hình theo hướng toàn diện đức – trí – thể – mỹ, gắn với việc hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới.

Kết nối những thành tố trên là một “sợi chỉ đỏ” về quản trị và nguồn lực. Hệ quan điểm chỉ đạo định hướng rõ đích đến, các mục tiêu định lượng cụ thể hóa kỳ vọng và mốc thời gian, còn tám nhóm nhiệm vụ – giải pháp là phương tiện tổ chức thực thi. Nhà nước với vai trò kiến tạo và đầu tư công dẫn dắt mở đường cho xã hội hóa; sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm tính thống nhất, kỷ luật, kỷ cương; văn hóa và hệ giá trị vừa là nền tảng vừa là động lực; công nghệ số và đổi mới sáng tạo là công cụ tăng tốc. Nhờ đó, giáo dục và đào tạo có thể chuyển từ “khâu yếu” sang “động cơ mạnh”, tạo nền móng nhân lực – tri thức vững chắc cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng của quốc gia.

2. Vai trò của giáo dục đào tạo trong xây dựng ý thức xã hội mới ở Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay

2.1. Nội dung xây dựng ý thức xã hội mới ở Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay

Ở nước ta, xã hội nông nghiệp cổ truyền với phương thức sản xuất châu Á đã tồn tại trong hàng nghìn năm, dựa trên nền kinh tế tự cấp, tự túc, sản xuất theo kinh nghiệm, với công cụ lao động thủ công, thô sơ, lạc hậu, mang tính phân tán, khép kín. Chính kiểu sản xuất đó đã trở thành nền tảng vật chất – xã hội quan trọng, góp phần định hình nên những quan niệm, tư tưởng, thói quen, phong tục của con người Việt Nam.

Do vậy, để xây dựng một ý thức xã hội mới, yêu cầu có tính nền tảng là phải xóa bỏ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu ấy. Ngay từ Đại hội III (1960), Đảng ta đã khẳng định: muốn đưa đất nước ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, phải tiến hành công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình cải biến căn bản phương thức sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân nhằm đạt năng suất lao động xã hội cao hơn, qua đó chuyển nền kinh tế sản xuất nhỏ, lạc hậu sang nền sản xuất lớn, công nghiệp hiện đại. Như vậy, “ý thức xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng là toàn bộ quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng… của xã hội mới mà hạt nhân là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước phản ánh lợi ích căn bản của nhân dân nhằm phục vụ công cuộc xây dựng xã hội mới”.

tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 6

Sản xuất nông nghiệp theo phương thức cổ truyền đã góp phần định hình nên những quan niệm, tư tưởng, thói quen, phong tục của con người Việt Nam.

Từ nội dung của ý thức xã hội mới Việt Nam hiện nay có thể khẳng định rằng: việc xây dựng ý thức xã hội mới trên địa bàn Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay cần đảm bảo ba nội dung cốt lõi như sau:

Một là, đảm bảo tính chủ thuyết Mác – Lênin được thấm đẫm trong đời sống tinh thần của Nhân dân Vùng đồng bằng sông Hồng, để chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm tư tưởng của Đảng, pháp luật của Nhà nước là hệ tư tưởng dẫn dắt, soi sáng con đường xây dựng ý thức xã hội mới,…

Hai là, xây dựng hệ giá trị chuẩn về pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ,… để những hệ giá trị này là những chuẩn mực xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Vùng đồng bằng sông Hồng.

Ba là, tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, cùng với đó là kế thừa những giá trị tinh hoa của dân tộc để người dân Vùng đồng bằng sông Hồng vừa hiện đại nhưng cũng giàu bản sắc dân tộc văn hóa vùng đất này.

2.2. Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với việc xây dựng ý thức xã hội mới ở Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay

Thứ nhất, giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục chính trị nói riêng trang bị ý thức chính trị - hạt nhân quan trọng của ý thức xã hội mới tại Vùng đồng bằng sông Hồng

tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 7

Ý thức xã hội mới Việt Nam không phải là một tập hợp rời rạc các ý tưởng mà có hạt nhân tư tưởng – lý luận rõ ràng: chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước. Đây là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam định hướng cho hệ giá trị, niềm tin, lý tưởng và chuẩn mực xã hội mới.

Giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo dục lý luận chính trị, giữ vai trò không thể thay thế trong việc:

Một là, trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học: Thông qua các chương trình giáo dục chính trị, người học hiểu bản chất của CNXH, bản chất của nhà nước pháp quyền XHCN, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Hai là, gắn lý luận với yêu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới: khi lý luận được gắn với phân tích thực tiễn, người học hiểu rằng các quan điểm của Đảng không phải là “ý chí chủ quan”, mà xuất phát từ quy luật khách quan và lợi ích lâu dài của dân tộc; từ đó, ý thức xã hội mới được xây dựng trên niềm tin lý trí.

Ba là, xây dựng bản lĩnh tư tưởng và “sức đề kháng” trước thông tin sai lệch, nhận diện các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động ly khai, cực đoan, suy đồi giá trị.

Bốn là, bồi dưỡng lý tưởng sống, đạo đức cách mạng và tinh thần phụng sự: Trang bị nền tảng lý luận còn gắn với việc nuôi dưỡng lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tinh thần yêu nước, ý thức làm chủ đất nước, ý thức trách nhiệm với cộng đồng.

Thông qua hệ thống giáo dục phổ thông, đại học, trường Đảng, trường chính trị, các chương trình giáo dục công dân, quốc phòng – an ninh, pháp luật…, các giá trị này được chuyển hóa thành chuẩn mực ứng xử trong đời sống hằng ngày. Khi số đông, nhất là thế hệ trẻ, tiếp nhận và “nội tâm hóa” những giá trị đó, ý thức xã hội mới trở thành lực lượng hiện thực, chi phối lựa chọn và hành động của xã hội.

Như vậy, ở phương diện đầu tiên này, giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục chính trị nói riêng không chỉ là kênh truyền đạt thông tin về đường lối, chính sách, mà còn đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích, niềm tin, lý tưởng của Đảng với ý thức xã hội của nhân dân, tạo nên “cái lõi” bền vững cho ý thức xã hội mới Việt Nam trong bối cảnh biến động phức tạp của thời đại.

Thứ hai, giáo dục và đào tạo gắn bó hữu cơ với hoạt động thực tiễn nói chung, lao động sản xuất nói riêng, vừa đưa ý thức xã hội mới vào định hướng cho những hoạt động này, vừa thông qua chúng để bổ sung, phát triển ý thức xã hội mới phù hợp hơn với sự vận động, phát triển của tồn tại xã hội trên địa bàn Vùng đồng bằng sông Hồng

tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 8

Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: ý thức (trong đó có ý thức xã hội mới) không phải được áp đặt từ bên ngoài một cách thuần túy, mà hình thành, kiểm nghiệm và phát triển trong chính thực tiễn lịch sử – xã hội, trong đó lao động sản xuất là hình thức cơ bản. Ý thức xã hội mới chỉ thực sự trở thành lực lượng vật chất khi nó thâm nhập vào hoạt động của con người, định hướng cho cách tổ chức sản xuất, quản lý, phân phối, ứng xử xã hội; ngược lại, chỉ trong thực tiễn đó, các quan điểm, giá trị mới được kiểm chứng, điều chỉnh, phát triển để phù hợp với những biến đổi của tồn tại xã hội.

Từ cách tiếp cận đó, vai trò của giáo dục và đào tạo có thể khái quát trên hai chiều tương tác biện chứng:

Một là, giáo dục và đào tạo là con đường chủ yếu đưa ý thức xã hội mới vào trong thực tiễn lao động và đời sống,… Thông qua hệ thống môn học, chương trình đào tạo, giáo dục công dân, giáo dục chính trị, pháp luật, đạo đức, thông qua bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, nông dân, trí thức…, giáo dục làm cho những giá trị cốt lõi của ý thức xã hội mới – chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn với CNXH, dân chủ XHCN, nhà nước pháp quyền, phát triển bền vững, tôn trọng con người, kỷ luật, pháp luật – được tiếp nhận một cách có hệ thống.

Hai là, giáo dục và đào tạo tiếp thu, phản ánh và nâng lên tầm lý luận những kinh nghiệm thực tiễn mới, góp phần phát triển ý thức xã hội mới phù hợp hơn với sự vận động của tồn tại xã hội,.. Giáo dục và đào tạo – với mạng lưới nhà trường, viện nghiên cứu, trường chính trị, cơ sở đào tạo cán bộ – chính là không gian tổ chức việc đó: tiếp nhận chất liệu từ thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội (chuyển đổi số, CNH, HĐH, hội nhập, biến đổi văn hóa), từ đó chỉnh sửa, làm sâu sắc nội dung giảng dạy, bổ sung các luận điểm lý luận, điều chỉnh các mô thức giáo dục đạo đức, pháp luật, công dân… sao cho phù hợp hơn với tình hình mới. Trong quỹ đạo đó, giáo dục không phải chỉ là “kênh truyền tải” đường lối, mà còn là “nơi phản hồi” – nơi thực tiễn được nhận thức, khái quát, trở lại soi sáng và hoàn thiện nội dung của ý thức xã hội mới.

Như vậy, ở nội dung thứ hai này chính sự gắn bó hữu cơ giữa giáo dục – đào tạo với lao động sản xuất và hoạt động xã hội làm cho ý thức xã hội mới mang hai phẩm chất quan trọng: (i) tính hiện thực – vì bám rễ trong đời sống và nhu cầu phát triển; (ii) tính mở và năng động – vì được thường xuyên bổ sung, điều chỉnh theo các quy luật vận động mới của tồn tại xã hội. Đó là cách để tránh cả hai khuynh hướng sai lầm: duy ý chí, áp đặt ý thức xa rời thực tế; hoặc giáo điều, bất biến hóa những công thức lý luận đã lỗi thời.

Thứ ba, giáo dục và đào tạo phát triển toàn diện người lao động với tính cách là yếu tố trung tâm của lực lượng sản xuất mới, từ đó góp phần hình thành ý thức xã hội mới trên địa bàn Vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay

tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 9

Giáo dục và đào tạo chính là phương thức cơ bản để “sản xuất” và “tái sản xuất mở rộng” chủ thể của lực lượng sản xuất mới, qua đó quy định trực tiếp chất lượng của ý thức xã hội mới. Trên nền tảng đó, triết học Mác – Lênin chỉ rõ: phát triển con người phải là phát triển toàn diện. Giáo dục không thể dừng ở truyền thụ tri thức rời rạc, mà phải kết hợp trí dục, đức dục, thể dục, giáo dục thẩm mỹ, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực xã hội, trong mối liên hệ hữu cơ với lao động sản xuất và đời sống cộng đồng.

Khi người lao động được giáo dục một cách toàn diện, họ không chỉ có năng lực chuyên môn để tham gia các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số…, mà còn hình thành những phẩm chất tinh thần mới: tư duy khoa học, ý thức pháp luật, tôn trọng kỷ luật, tinh thần hợp tác, trách nhiệm với cộng đồng, năng lực thích ứng và sáng tạo.

Nghị quyết 71-NQ/TW (2025) đã khẳng định rõ điều đó khi đặt mục tiêu giáo dục và đào tạo phải xây dựng thế hệ “con người Việt Nam mới có lòng yêu nước và tự hào dân tộc, đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, trình độ, sức khoẻ”, trở thành lực lượng chủ yếu của phát triển nhanh và bền vững. Ở đây, yêu cầu về “con người Việt Nam mới” không chỉ là mục tiêu nhân văn chung chung, mà là yêu cầu trực tiếp của lực lượng sản xuất mới: chỉ khi chủ thể lao động mang phẩm chất mới, phương thức sản xuất mới định hướng XHCN mới có thể hình thành và vận hành ổn định.

Như vậy, vai trò có tính quyết định của giáo dục – đào tạo đối với xây dựng ý thức xã hội mới là: thông qua quá trình phát triển toàn diện con người lao động – với tư cách trung tâm của lực lượng sản xuất mới – giáo dục làm xuất hiện đồng thời hệ giá trị, niềm tin, lý tưởng, phong cách sống, chuẩn mực ứng xử mới. Ý thức xã hội mới được hình thành trong chính quá trình giáo dục – đào tạo ra những con người có năng lực và phẩm chất phù hợp với cơ cấu kinh tế – xã hội mới.

Thứ tư, thông qua quá trình xã hội hóa giáo dục và đào tạo mang tính bình đẳng, những tàn dư tư tưởng, phong tục, tập quán lạc hậu sẽ bị đẩy lùi và các quan điểm, tư tưởng, lý thuyết có tính đột phá sẽ hình thành, lan tỏa, mở đường cho ý thức xã hội mới định hình và phát triển ở Vùng đồng bằng sông Hồng

tu nghi quyet so 71-nq/tw cua bo chinh tri toi phat huy vai tro cua giao duc va dao tao trong xay dung y thuc xa hoi moi o vung dong bang song hong hien nay - 10

Muốn xây dựng ý thức xã hội mới thì không chỉ cải biến cơ sở kinh tế, mà còn phải dân chủ hóa tri thức, hạn chế, thu hẹp bất đình đẳng trong giáo dục, đưa giáo dục trở thành tài sản chung của xã hội. Đó chính là tinh thần “xã hội hóa giáo dục” theo định hướng XHCN: giáo dục cho số đông, cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bảo đảm cơ hội học tập tương đối bình đẳng, học tập suốt đời, gắn với lợi ích của cộng đồng, của quốc gia.

Nghị quyết 71-NQ/TW cũng xác định rõ giáo dục và đào tạo phải được phát triển như một hệ thống mở, liên thông, bảo đảm công bằng trong tiếp cận, khơi dậy truyền thống hiếu học, xây dựng xã hội học tập, coi phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.

Khi giáo dục trở thành kênh tiếp cận tri thức rộng rãi, nó trực tiếp làm suy giảm nền tảng tồn tại của các tàn dư tư tưởng phong kiến, gia trưởng, “cha truyền con nối”, “đặc quyền tri thức”, phân biệt thân – sơ, đẳng cấp, vốn dựa trên sự thiếu hiểu biết và sự khép kín về cơ hội học tập.

Như vậy, vai trò của giáo dục – đào tạo là: thông qua quá trình dân chủ hóa, phổ cập hóa, xã hội hóa mang tính bình đẳng, giáo dục vừa thủ tiêu dần nền tảng xã hội – ý thức của cái cũ, vừa kiến tạo môi trường cho cái mới – những quan điểm, học thuyết, giá trị tiến bộ – ra đời, phát triển và chiếm ưu thế trong không gian tinh thần của xã hội.

3. Kết luận

Tóm lại, chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng việc phát triển con người toàn diện về tri thức khoa học, tay nghề, năng lực sáng tạo, phẩm chất đạo đức, tác phong kỷ luật, ý thức tổ chức, ý thức pháp luật, ý thức chính trị – xã hội... thì giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng trong việc phát triển lực lượng sản xuất mới, để từ đó hình thành những yếu tố cốt lõi của ý thức xã hội mới trên địa bàn Vùng đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn của kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam phồn thịnh, rạng ngời.

Danh mục tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Chính trị; Nghị quyết số 71 ngày ngày 22/8/2025; https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-71-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao.

[2]. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội.

[3]. C.Mác và Ph.Ăngghen (2004), Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội.

[4]. Nguyễn Thị Nga (2007), Vấn đề xây dựng ý thức xã hội mới ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 4 (191).

[5]. https://nvsk.vnanet.vn/ho-so/vung-dong-bang-song-hong-3-31990.vna

[6].https://nhandan.vn/dua-dong-bang-song-hong-thanh-vung-dong-luc-quan-trong-nhat-but-pha-manh-me-post920959.html

Chia sẻ

Chia sẻ zalo Chia sẻ zalo Chia sẻ zalo Chia sẻ zalo

Nguyễn Lê Thạch

CLIP HOT

Pickleball - Không chỉ là thể thao mà là hành trình lan tỏa lối sống xanh
Pickleball - Không chỉ là thể thao mà là hành trình lan tỏa lối sống xanh

Không dừng lại ở những cú đánh bóng kịch tính hay những trận cầu nảy lửa, bộ môn Pickleball đang trở thành biểu tượng mới cho một lối sống năng động và thân thiện với môi trường. Vừa qua, Lễ trao giải cuộc thi ảnh toàn quốc “Pickleball – Kết nối đam mê” tại TP.HCM đã chính thức vinh danh những khoảnh khắc tuyệt đẹp, nơi tinh thần thể thao hòa quyện cùng thông điệp xanh, truyền c