KHÁM PHÁ LĂNG ĐÁ DINH HƯƠNG

    lang hinh uong

    Tồn tại gần 300 năm trên đất Kinh Bắc, lăng đá Dinh Hương vẫn giữ được dáng vẻ cổ kính, trầm mặc và uy nghi, xứng đáng là một trong những công trình kiến trúc bằng đá tiêu biểu nhất của Việt Nam







    Vào khoảng thế kỷ XVII-XVIII, Kinh Bắc vốn là vùng đất có nhiều làng nghề với những lực lượng thủ công đông đảo, trong đó có cả những phường thợ đá. Lại thêm đây cũng là vùng đất có truyền thống khoa cử lâu đời, bởi vậy số lượng quan lại cao cấp trong chính quyền Lê-Trịnh khá đông (trong 73 khoa thi (1554-1787), thì chỉ riêng Kinh Bắc có tới 199 vị Tiến sĩ vào làm quan lớn trong triều đình). Khi già, họ thường về quê chọn đất xây mộ. Những lăng đá ở Bắc Giang đã được hình thành như là hệ quả của diễn trình lịch sử đó. Lăng đá ở Bắc Giang được xây dựng sớm nhất là lăng Đĩnh Quận công Ngô Công Mỹ, xã Thái Sơn (Hiệp Hòa) được xây dựng vào năm Thịnh Đức thứ 3 (1655), lăng xây dựng muộn nhất là Lan Trung hầu Nguyễn Hạnh Thông, xã Đông Lỗ niên đại năm Cảnh Trị thứ 9 (1771). Đặc biệt, tiêu biểu nhất phải kể đến lăng Dinh Hương, đây có thể xem là một “Bảo tàng đá” đại diện cho nền nghệ thuật điêu khắc lăng tẩm, đã phát triển đến đỉnh cao và giữ vị trí quan trọng tại Việt Nam. Hiện nay, lăng đá này còn giữ được tương đối đầy đủ các hạng mục kiến trúc và di vật đá cổ.

    lang hinh uong 1

    Thuộc xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang), lăng đá Dinh Hương có niên đại thời hậu Lê (1727), là nơi an nghỉ của một võ quan thủy binh tên La Đoan Trực, hiệu Quận công La Quý Hầu – người có nhiều công lao đối với triều đình thời kỳ đó. Năm 1740, dưới triều đại vua Lê Hiển Tông, ông cầm quân đi dẹp loạn ở các vùng thuộc đạo Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Dương, hai lần được cử đi sứ phương Bắc, năm 1749 ông mất, thọ 61 tuổi. Sau đó, được vua phong là Phúc thần Trung cẩn Đại vương. Khu lăng đá là do đích thân La Đoan Trực thuê thợ giỏi nhất vùng về làm cho riêng mình, để đến khi mất làm nơi an nghỉ. Vì thế về góc độ phong thủy, địa thế đều được xem xét, lựa chọn rất kỹ lưỡng.

    lang hinh uong 2

    Toàn bộ kiến trúc nội thất và ngoại thất của khu lăng mộ được xây dựng bằng chất liệu đá ong và đá xanh. Cấu trúc lăng được chia làm ba phần khá đồ sộ và hoành tráng gồm: Phần mộ táng ở giữa, phần thờ tự ở bên trái, phần bia đá ở bên phải. Phần mộ táng hình vuông, diện tích gần 100m2 với tường vây bằng đá ong (Kiểu mộ ướp xác, có thể giữ cho thi thể người chết còn khá nguyên vẹn trong một thời gian dài. Theo đó, thi hài được ngâm vào dầu thông cho thơm và mặc rất nhiều quần áo đẹp có thêu hình rồng phượng rồi đặt trong một cỗ quan tài bằng gỗ thông, loại gỗ có hương thơm, rồi bỏ nhiều chè búp, hoa hòe, giúp cho xác ướp được thơm và khô ráo…). Theo đánh giá của giới chuyên môn, trong tổng số 46 lăng đá cổ ở Bắc Giang thì Dinh Hương là một trong những lăng đá hoành tránh và đẹp nhất. Đặc biệt, lăng có các tượng quan hầu, tướng võ uy nghiêm, tượng voi, chó, sấu, ngựa… đây đều là những tuyệt tác kiến trúc đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật điêu khắc ở Việt Nam. Trong đó có tượng voi ở nhiều tư thế ngồi, đứng, quỳ, phục, vòi cuộn lại, cổ đeo chuông lớn. Tượng ngựa tạc theo kiểu: yên cương, nhạc ngựa, lục lạc, ngò hoa, vải phủ, khăn thêu… Tượng nghê và sấu được miêu tả rất có hồn; chó được miêu tả đơn giản hơn, ít phức tạp song không vì thế mà mất đi nét độc đáo riêng. Phía trước khu mộ có hai quan hầu dắt ngựa đứng chầu đối diện nhau qua đường thần đạo. Cặp tượng quan hầu dắt ngựa chú trọng vào cách tạo khối trên thân, khiến con vật trở nên đậm chất hiện thực. Một số mảng chạm tỷ mỷ và mang tính cách điệu cao như phần yên cương, bờm con ngựa. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên phải có mặt to, hàm rộng. Võ quan đeo gươm dắt ngựa phía bên trái có râu dài, mặt nhỏ. Phía trước cổng, xưa kia là một hồ nước rất lớn, nhưng nay diện tích hồ bị thu nhỏ lại.

    lang hinh uong 3

    Điểm nổi bật, độc đáo của lăng Dinh Hương là các bức tượng đồ sộ, to hơn hẳn ở các lăng mộ khác, được chạm khắc tinh tế, có hồn. Với những giá trị độc đáo về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khu lăng mộ này được nhà nước xếp hạng Di tích cấp Quốc gia vào năm 1965. Đã có nhiều nhà nghiên cứu và du khách về đây tìm tòi, chiêm bái và thưởng ngoạn hệ thống di tích độc đáo này. Trong tương lai nếu biết khai thác thì đây sẽ là điểm đến du lịch đầy hấp dẫn đối với du khách bốn phương.

     

              K.S