

Khi TP.HCM xác định công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch không còn là lĩnh vực dịch vụ đơn thuần, mà trở thành thước đo năng lực hiện thực hóa chiến lược phát triển. Trong bối cảnh siêu đô thị đa trung tâm hình thành, du lịch đứng trước yêu cầu tái định vị: từ ngành thụ hưởng sang năng lực tổ chức kinh tế di sản, kinh tế sáng tạo, kinh tế đêm và văn hóa hẻm, qua đó tích lũy sức mạnh mềm cho siêu đô thị.
TP.HCM lựa chọn công nghiệp văn hóa làm ngành kinh tế mũi nhọn không phải để mở rộng danh mục chính sách, mà để thiết lập một hệ quy chiếu phát triển mới. Trong hệ quy chiếu ấy, tăng trưởng không còn được đo chủ yếu bằng quy mô hay tốc độ, mà bằng khả năng chuyển hóa các giá trị văn hóa, lịch sử và sáng tạo thành nguồn lực kinh tế bền vững, đồng thời, tạo dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn cho đô thị.
Lựa chọn này càng trở nên có ý nghĩa khi TP.HCM bước vào giai đoạn phát triển mới với tư cách siêu đô thị mở rộng, nơi các không gian trung tâm dịch vụ - sáng tạo, vành đai công nghiệp - đổi mới và vùng biển - sinh thái - logistics cùng tồn tại trong một chỉnh thể phát triển. Thách thức đặt ra không còn là mở rộng quy mô, mà là năng lực quản trị để tổ chức sự đa dạng ấy thành một cấu trúc có bản sắc, có trục giá trị và có nhịp vận hành thống nhất. Ở điểm giao thoa đó, du lịch nổi lên như một lĩnh vực bản lề, kết nối các không gian khác biệt thành trải nghiệm chung của đô thị.



Trong cấu trúc phát triển mới, vai trò của du lịch không nằm ở con số doanh thu ngắn hạn, mà là thước đo rõ ràng nhất cho năng lực triển khai công nghiệp văn hóa. Du lịch chính là nơi các giá trị văn hóa được chuyển hóa thành trải nghiệm cụ thể, được công chúng cảm nhận và được thị trường đánh giá.
Theo nghĩa đó, du lịch cho thấy một thành phố thực sự biết tổ chức di sản, kích hoạt sáng tạo và kết nối đời sống đô thị thành giá trị hay không; có đủ năng lực quản trị để biến bản sắc thành sức mạnh cạnh tranh hay không. Khi du lịch vận hành hiệu quả, đó là dấu hiệu cho thấy công nghiệp văn hóa đã đi vào thực chất. Ngược lại, những hạn chế của du lịch cũng chính là những điểm nghẽn cần được nhìn nhận lại trong chiến lược phát triển văn hóa - sáng tạo của đô thị. Ở tầng sâu hơn, du lịch còn là không gian hình thành “thấu cảm du lịch” - nơi du khách không chỉ tham quan, mà hiểu, đồng cảm và gắn bó với thành phố.


Du lịch TP.HCM không phát triển dựa trên lợi thế cảnh quan thiên nhiên theo nghĩa truyền thống. Sức hấp dẫn của thành phố hình thành từ đời sống đô thị với lịch sử hình thành, cấu trúc không gian, kiến trúc, nghệ thuật, điện ảnh, ẩm thực, nhịp sống năng động và tinh thần cởi mở. Đây là loại tài nguyên không thể khai thác theo lối tận thu, mà phải được tổ chức như một hệ sinh thái trải nghiệm - nền tảng của bản sắc du lịch đô thị.
Trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa, tái định vị du lịch là thay đổi cách vận hành: từ giới thiệu điểm đến sang thiết kế hành trình; từ trưng bày hiện vật sang kể câu chuyện; từ tiêu dùng đơn lẻ sang chuỗi trải nghiệm có giá trị gia tăng; từ quản lý theo ngành sang quản trị theo hệ sinh thái.
Quan trọng hơn, đó là sự chuyển dịch từ quảng bá đơn tuyến sang kiến tạo danh tiếng địa phương bằng chất lượng trải nghiệm nhất quán, nơi hình ảnh thành phố được xây dựng từ cảm nhận thực của du khách, chứ không chỉ từ thông điệp truyền thông.
Đặc biệt, trong bối cảnh siêu đô thị mở rộng, du lịch không thể phát triển theo tư duy “cộng dồn điểm đến”, mà phải trở thành năng lực kết nối các không gian khác biệt, từ trung tâm sáng tạo, các vành đai sản xuất - đổi mới, đến không gian biển và sinh thái. Đây là cấp độ mà du lịch vượt ra khỏi vai trò ngành dịch vụ để trở thành công cụ điều phối nhịp phát triển đô thị, một hình thức hội nhập phát triển ở quy mô không gian và trải nghiệm.



Một trụ cột quan trọng của công nghiệp văn hóa là kinh tế di sản.Cần nhấn mạnh rằng, kinh tế di sản không đồng nghĩa với thương mại hóa thô bạo, càng không phải bán vé di tích. Đó là nghệ thuật tạo giá trị từ di sản thông qua diễn giải, kết nối và sử dụng thông minh, để di sản được bảo tồn bằng chính động lực phát triển của nó.
Với TP.HCM, di sản không chỉ nằm ở các công trình hay bảo tàng, mà còn hiện diện trong ký ức không gian, cấu trúc đô thị và lịch sử đa tầng của một thành phố cửa ngõ. Du lịch, nếu được tổ chức đúng cách, sẽ là cơ chế khiến di sản “sống” được kể lại bằng ngôn ngữ đương đại, được kết nối thành tuyến trải nghiệm, được đưa vào đời sống sáng tạo, giáo dục và dịch vụ. Đây là cách để di sản không bị đông cứng nhưng cũng không bị làm mòn bởi khai thác ngắn hạn, đồng thời, nuôi dưỡng thấu cảm du lịch và uy tín văn hóa của đô thị.


Nếu kinh tế di sản tạo nền giá trị, thì kinh tế sáng tạo tạo lực bật. Kinh tế sáng tạo vận hành theo logic “từ ý tưởng đến trải nghiệm và lan tỏa”, và qua đó, giá trị không chỉ nằm ở sản phẩm, mà ở khả năng tạo ảnh hưởng và hình thành xu hướng. Du lịch, trong logic này, là thị trường dẫn dắt trải nghiệm hiệu quả nhất.
TP.HCM có lợi thế của một đô thị sáng tạo, với cộng đồng nghệ sĩ, nhà sản xuất phim, nhà thiết kế, doanh nghiệp sáng tạo; năng lực tổ chức sự kiện; và khả năng biến cái mới thành đời sống. Khi du lịch gắn với kinh tế sáng tạo, thành phố có thể tạo ra những sản phẩm mang “chữ ký” từ lễ hội, trình diễn, không gian nghệ thuật, trải nghiệm điện ảnh đến các hành trình ẩm thực, thiết kế và thời trang. Du lịch khi đó không chỉ đón khách, mà định hình xu hướng trải nghiệm, góp phần tạo dựng danh tiếng địa phương theo cách hiện đại.



Có những giá trị làm nên TP.HCM mà không thể thay thế bằng dự án hiện đại hay công trình cao tầng, đó là văn hóa hẻm. Hẻm là một hình thái không gian xã hội đặc thù; ở đó vừa riêng tư vừa cộng đồng, vừa ngẫu hứng vừa kỷ luật, nơi đời sống thường nhật, ẩm thực, giao tiếp và sáng tạo tự phát đan xen.
Du lịch hẻm, nếu làm tinh tế, không nhằm “trưng bày đời sống”, mà dựa trên nguyên tắc tôn trọng - đồng sáng tạo - chia sẻ giá trị. Khi cộng đồng được đặt ở vị trí trung tâm, văn hóa hẻm trở thành một nguồn lực của kinh tế sáng tạo đô thị; và đồng thời, là lợi thế cạnh tranh mềm khó sao chép, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đô thị mở rộng và nguy cơ đồng nhất hóa không gian gia tăng.


Một đô thị lớn không thể chỉ vận hành theo khuôn mẫu giờ hành chính. Kinh tế đêm, vì vậy, không đơn thuần là giải trí, mà là cơ chế kéo dài thời gian trải nghiệm, gia tăng giá trị tiêu dùng hợp pháp và mở rộng không gian văn hóa. Khi được tổ chức đúng hướng, kinh tế đêm góp phần hình thành hình ảnh “thành phố không ngủ” - không phải để ồn ào, mà để giàu nhịp sống, giàu lựa chọn và giàu trải nghiệm.
Kinh tế đêm của TP.HCM cần được đặt trong khung công nghiệp văn hóa với biểu diễn nghệ thuật, không gian đi bộ, ẩm thực đêm, chợ đêm sáng tạo, bảo tàng và triển lãm mở rộng giờ hoạt động. Khi được tổ chức bài bản, kinh tế đêm không làm thành phố “ồn” hơn, mà làm thành phố sâu hơn, sâu về trải nghiệm, sâu về bản sắc và sâu về sức sống đô thị, đồng thời, góp phần điều phối hoạt động theo vùng trong siêu đô thị đa trung tâm.



Đặt du lịch trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa, gắn với kinh tế di sản, kinh tế sáng tạo, văn hóa hẻm và kinh tế đêm, không chỉ là câu chuyện phát triển của một ngành. Đó là cách TP.HCM tái định nghĩa tăng trưởng; từ tăng trưởng dựa trên quy mô sang tăng trưởng dựa trên giá trị; từ đóng góp kinh tế trực tiếp sang khả năng tích lũy sức mạnh mềm cho siêu đô thị.
Trong cấu trúc ấy, du lịch không chỉ tạo việc làm hay doanh thu, mà góp phần định hình bản sắc đô thị, nuôi dưỡng thấu cảm du lịch và xây dựng danh tiếng địa phương trong tiến trình hội nhập phát triển. Một TP.HCM hiện đại nhưng không mất bản sắc, năng động nhưng không xô bồ, mở cửa nhưng không hòa tan chính là hình ảnh được kiến tạo thông qua trải nghiệm du lịch có chiều sâu và nhất quán.
Khi du lịch được tổ chức như năng lực điều phối các không gian di sản, sáng tạo và đời sống ngày – đêm, TP.HCM không chỉ là nơi “đến và đi”, mà trở thành một điểm đến có ảnh hưởng; nơi du khách đến để hiểu, để nhớ và để muốn quay lại. Ở nghĩa đó, du lịch đã hoàn thành vai trò vượt lên trên động lực tăng trưởng, để trở thành sức mạnh mềm bền vững của siêu đô thị trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa.


