Kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014) Vinh quang Truyền thống Quân đội Nhân dân Việt Nam

 Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các tổ chức vũ trang lần lượt được hình thành là Đội Tự vệ đỏ (xích đỏ) trong Cao trào Xô viết-Nghệ Tĩnh và cao trào Cách mạng (1930 – 1931). Những năm 1940 – 1945, các Đội Du kích Bắc Sơn (Lạng Sơn), Du kích Nam Kỳ, Đội Du kích Ba Tơ (Trung Kỳ), Đội Du kích Pắc Bó (Cao Bằng), Cứu Quốc Quân được hình thành.

Bác Hồ ở Chiến dịch Biên giới 1950

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc  đã trực tiếp giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một Đội Vũ trang để hoạt động và lập Đội Quân Giải phóng. Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân được thành lập với 34 chiến sĩ, được chia thành 3 Tiểu đội. Ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân đã tiến công nhiều đồn giặc và giành thắng lợi, tiêu diệt và bắt sống nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng của địch mở ra truyền thống quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược của Quân đội ta.

Bác Hồ nói chuyện với Cán bộ, Chiến sĩ Đại đoàn 308 tại Đền Hùng (Phú Thọ), tháng 9-1954

Tháng 4-1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân…) thành Việt Nam Giải Phóng quân, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam Giải Phóng quân.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng)

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải Phóng quân được đổi tên thành Vệ  Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh bại thực dân Pháp xâm lược, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, buộc Pháp phải công nhận độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.  

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, mốc vàng trong lịch sử dân tộc, mang tầm vóc thời đại

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), đất nước ta vừa xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh chống đế quốc Mỹ và nguỵ quyền để giải phóng miền Nam. Với tinh thần dũng cảm, bằng cách đánh mưu trí, linh hoạt, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã lần lượt đánh bại và sụp đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, đánh bại  chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và các cuộc tập kích bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ vào miền Bắc. Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30.4.1975).

Xe tăng Quân Giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập của chính quyền Sài Gòn, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng

Quân Giải phóng vào chiếm Dinh Độc Lập trưa ngày 30-4-1975

Sau ngày đất nước thống nhất, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh chính trị trên mặt trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân đội ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó: Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ Xã hội Chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá và an ninh xã hội; duy trì trật tự kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị đất nước; ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Trên mặt trận xây dựng kinh tế, Quân đội ta chuyển một phần lớn quân số sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tích cực lao động sản xuất, tham gia xây dựng tuyến đường sắt thống nhất Bắc-Nam; khai hoang xây dựng các vùng kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp; xây dựng các công trình thủy lợi, đường giao thông; khai thác và chế biến hải sản; xây dựng cơ bản, sản xuất vật liệu xây dựng…, góp phần nâng cao một bước đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm nơi ăn, ở, làm việc cho bộ đội, tăng thêm của cải cho xã hội.

Cán bộ, Chiến sĩ tham gia giúp nhân dân chống bão, thiên tai, ổn định cuộc sống

 Tháng 4-1977, tập đoàn Pôn Pốt-Iêngxari đã phát động cuộc chiến tranh xâm  lược biên giới Tây Nam nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam đẩy mạnh phản công và tiến công, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của tập đoàn phản động Pôn Pốt-Iêngxari, đuổi chúng về bên kia biên giới. Với sự giúp đỡ to lớn của Quân Tình nguyện Việt Nam, ngày 7-01-1979, các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia đã đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt-Iêngxari, hồi sinh, tái thiết đất nước Campuchia.

Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, tình hình trong nước bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cũng có những khó khăn, thách thức mới, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ý chí Cách mạng tiến công, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.

Chủ  động và kiên quyết thực hiện tốt nhiệm vụ  cấp bách hàng đầu là phòng chống chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ biên giới, hải đảo của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và thành quả Cách mạng của nhân dân.

Cùng với nhiệm vụ sẵn sàng chiến  đấu, Quân đội đã tham gia phòng chống thiên tai, bão lụt, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, hình ảnh và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng toả  sáng.

 Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam, 70 năm qua, Quân đội Nhân dân Việt Nam vừa xây dựng, vừa chiến đấu và trưởng thành, xây đắp nên truyền thống rất vẻ vang: Trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; Quyết chiến, quyết thắng; Gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân một ý chí; Đoàn kết nội bộ, cán bộ, chiến sĩ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thương yêu giúp đỡ nhau, trên dưới đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động; Kỷ luật tự giác nghiêm minh; Độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng và bảo vệ của công; Lối sống trong sạch lành mạnh, có văn hoá, trung thực, khiêm tốn, giản dị, lạc quan; Luôn luôn nêu cao tinh thần ham học, cầu tiến bộ; Đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình.

Kỷ  niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22-12-1944 – 22-12-2014) là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang, những chiến công oanh liệt của Quân đội và nhân dân ta. Qua đó, khơi dậy niềm tự hào, dân tộc, nâng cao lòng yêu nước, yêu Chủ nghĩa Xã hội, ý chí quật cường, ý thức tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới của Cách mạng; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.

   

P.P.B