Dù gắn bó gần 5 năm hay hơn hai thập kỷ, họ đều gặp nhau ở tình yêu bền bỉ cho Thành phố mang tên Bác qua tinh thần cống hiến trong lao động và niềm thấu hiểu văn hóa sâu sắc. Thành phố này sẵn lòng ôm lấy những lữ khách từ muôn nơi, xoa dịu những thương tổn, gợi mở những cơ hội và trao đi lời chào đón nồng hậu nhất. Để rồi, người lạ cứ thế thành người nhà.

Trước khi thật sự đặt chân đến Việt Nam, đất nước này đã hiện diện trong đời tôi như một phần ký ức gia đình và lịch sử. Cha tôi là một người lính Úc từng tham chiến tại Việt Nam từ năm 1965. Tôi lớn lên cùng những câu chuyện, hình ảnh và dư âm xoay quanh thành phố khi ấy còn mang tên Sài Gòn. 

Sau khi Việt Nam thống nhất, gia đình tôi trở về Úc. Những gì tôi nghe được về TP.HCM phần nhiều đến từ tin tức, lời kể và những bình luận không phải lúc nào cũng đầy đủ hay công bằng. Nhưng, định mệnh có cách thức riêng để trả lại sự thật. Năm 2012, tôi trở lại nơi đây. Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, dinh Độc Lập đến nhà thờ Đức Bà, sông Sài Gòn và những tượng đài tôn vinh các anh hùng trong quá khứ, dòng chảy liên tục của lịch sử và văn hóa đã xóa mờ những định kiến thiên vị của bên gây chiến. Trong chuyến đi đầu tiên ấy, trong một ngày xuôi tàu trên sông Sài Gòn, một ý nghĩa nảy sinh, tôi quay sang con và nói: “Ba không biết vì sao, nhưng ba cảm thấy như mình đang ở nhà.” Nó nhìn tôi, hoài nghi: “Ba có đang bình thường không?”. Và đúng một năm mười hai ngày sau, tôi đã trở lại với 2 hành lý. 

Gần 14 năm sống ở đây, tôi đã chứng kiến TP.HCM thay da đổi thịt. Một Thủ Thiêm từng chỉ có những con đường đất đỏ, nay đã lột xác thành khu đô thị mới sầm uất. Tôi chứng kiến tòa tháp Landmark 81 kiêu hãnh xuất hiện, tuyến Metro đi vào vận hành, dòng sông Sài Gòn đang dần được nhìn lại đầy sức sống thông qua những cây cầu, bến phà, tuyến tàu thủy cùng không gian công cộng hiện đại. Có lúc tôi thoáng tiếc vẻ lãng mạn cũ của thành phố, nhưng tôi hiểu đô thị này không thể mãi bó mình trong chiếc áo hoài cổ mà phải vươn lên để trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại và kết nối chiến lược của cả khu vực.

Tình yêu của tôi với TP.HCM, một kiểu “yêu - ghét". Thành phố không hoàn hảo, luôn ồn ào, nóng bức và đầy bất cập khiến một người ngoại quốc đôi lúc mệt mỏi. Những khi ấy, tôi chọn đạp xe hàng chục cây số về vùng quê để giải tỏa áp lực. Thế nhưng, chỉ cần đi xa thành phố vài ngày, tôi lại nhớ da diết những con hẻm nhỏ, nhớ đĩa cơm tấm khói nghi ngút, tô hủ tiếu gõ, bún đậu mắm tôm hay các quán ốc vỉa hè náo nhiệt. So với một nước Úc sống cá nhân hơn, nơi đây mang lại cho tôi kết nối cộng đồng ấm áp. Tôi chọn yêu cả những điều bất toàn ấy, vì chính chúng làm nên hơi thở và đời sống thật của nơi này.

Hiện tại, tôi dạy học, đào tạo doanh nghiệp và viết bài cho một số báo. Tôi cũng sáng lập nhóm “Aussies in Vietnam” để kết nối cộng đồng người Úc, New Zealand tại Việt Nam. Qua các bài viết hay video hằng ngày, tôi muốn mang đến cái nhìn chân thực nhất để mọi người hiểu và thương thành phố một cách chân thành, không màu mè, hoa mỹ. Nơi này đã trao cho tôi sự ấm áp vượt xa mọi điều hình dung. Tôi không sinh ra ở đây, nhưng bằng sự bao dung kỳ lạ, TP.HCM đã tự lúc nào nhận tôi như một người nhà.

Tôi là Andrea Da Gasso, một nhiếp ảnh gia người Ý. Năm 2008, công việc đưa tôi đến Đông Nam Á trong một dự án chụp chân dung người bản địa. Tôi đã đi qua Thái Lan, Campuchia, rồi đến Hà Nội. Ở đó, giữa những con phố mang dấu vết kiến trúc Đông Dương, những khoảng lặng và màu sắc văn hóa đầy riêng biệt, tôi bắt đầu có một cảm giác khó gọi tên. Nhưng phải đến khi vào miền Nam, khi chạm vào khí hậu nóng ẩm, sự phóng khoáng và nhịp sống mở ra nhiều cơ hội của TP.HCM, cảm giác ấy mới rõ hơn: khao khát gắn bó lâu dài. 

Tôi từng có cơ hội đến Mỹ với một mức lương tốt, một con đường có vẻ an toàn và đủ đầy hơn. Nhưng trong những ngày phải đưa ra quyết định, hình ảnh về Việt Nam cứ trở lại trong tôi: những con phố, chiếc mô tô, cảm giác được sống trong một thành phố đang chuyển động. Tôi tự hỏi mình thật sự muốn gì. So với một cuộc sống có mọi thứ ở nước Mỹ, tôi biết mình sẽ hạnh phúc hơn ở TP.HCM, dù khi bắt đầu gần như không có gì.

Cứ thế, tôi quyết tâm dời toàn bộ studio DAG từ Milan về đây, trở thành văn phòng chụp hình và quay phim thương mại đầu tiên của người Ý tại Việt Nam. Và duyên đến, tôi có một người vợ dịu dàng, gia đình đúng nghĩa thành hình trên TP.HCM. 

Những ngày đầu, mọi thứ giống như một bức ảnh phủ màu hồng. Con người thân thiện, ẩm thực phong phú, chi phí dễ chịu, đời sống mới mẻ và đầy hấp dẫn. Nhưng rồi có những tháng studio không có khách hàng mới. Khoảng cách văn hóa, ngôn ngữ, thu nhập và nỗi nhớ quê nhà dần hiện ra rõ ràng. Tôi hiểu rằng để sống lâu ở một đất nước khác, tình yêu ban đầu là chưa đủ. Người ta cần kiên nhẫn, cần học cách thích nghi, và cần chấp nhận cả những điều không hoàn hảo. 

Năm 2014, cơ hội mới mở ra khi tôi thấy người Việt bắt đầu thích pizza và mì Ý. Nhận ra nguồn phô mai Ý tại đây còn bỏ ngỏ, tôi cùng vợ quyết tâm thực hiện ước mơ sáng lập thương hiệu Ottima Cheese tại Hiệp Bình Chánh. Bằng cách kết hợp nguồn sữa bò chất lượng cao tại Việt Nam, công thức truyền thống Ý và đôi bàn tay khéo léo của người thợ Việt, chúng tôi đã tạo ra loại phô mai tươi ngon đủ thế mạnh cạnh tranh, đưa Ottima Cheese trở thành thương có tiếng ở Việt Nam về phô mai.

Bây giờ, ở tuổi 55, nếu hỏi tôi thành công là gì, tôi không nghĩ ngay đến tiền bạc hay danh tiếng. Tôi nghĩ đến đêm đầu tiên ngủ trong căn nhà của mình tại TP.HCM. Tôi nghĩ đến chiếc mô tô hằng mơ ước và những chuyến đi cùng bạn bè. Tôi nghĩ đến vợ tôi, con trai tôi, đến cảm giác một người từng phiêu bạt cuối cùng cũng có nơi để trở về.

Tôi luôn nhắn nhủ những người bạn ngoại quốc muốn đến định cư rằng hãy thử du lịch và trải nghiệm trước để xác định câu trả lời. Với tôi, từ cái nhìn đầu tiên cho đến mãi về sau, tôi biết ơn sâu sắc với mảnh đất phóng khoáng và rộng mở cơ hội này. Tại thành phố mang tên Bác, tôi đang cảm nhận thật rõ ràng: "La vita è bella", cuộc sống này thật tươi đẹp.

Trước khi gắn bó TP.HCM suốt 18 năm qua, tôi từng là một người lữ hành đi qua và sinh sống tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tôi không học mỹ thuật chính quy. Con đường sáng tạo của tôi bắt đầu khá muộn, sau một chuyến đi New Zealand năm 2017, khi tôi nhìn thấy bạn bè dành thời gian ngoài công việc cho hội họa, âm nhạc và những thực hành sáng tạo. Trở về Việt Nam, tôi bắt đầu chú ý đến những mảnh kính, gương vỡ bị bỏ lại trên đường phố TP.HCM. Ban đầu, tôi chỉ nhặt chúng về và thử làm. Tôi tự học cách cắt, mài, ghép kính qua các video hướng dẫn trên mạng. Tôi làm hỏng, học tiếp, rồi lại làm.

Từ những khung ảnh, chiếc gương, món đồ trang trí nhỏ, tôi dần chuyển sang các tác phẩm treo tường và điêu khắc. Dự án Re-Flections ra đời từ quá trình ấy, với mong muốn tái sử dụng kính và gương vỡ để tạo nên những tác phẩm có ý nghĩa. Với tôi, “rác” đôi khi chỉ là một cách gọi vội vàng dành cho những thứ con người chưa kịp nhìn thấy khả năng tiếp tục tái tạo của nó.

Xưởng của tôi nằm trong một căn hẻm nhỏ ở Thảo Điền, nay là phường An Khánh. Đó vừa là nơi ở, vừa là xưởng sáng tác, vừa như một phòng triển lãm nhỏ. Những tác phẩm bằng kính phủ lên tường, trần nhà, khung cửa sổ. Ở đó, ánh sáng không đứng bên ngoài tác phẩm. Một tác phẩm bằng kính chỉ thật sự sống khi nắng đi qua nó, bị cắt vụn, phản chiếu, rồi tái hợp lại một cách kỳ diệu trong mắt người xem theo từng khoảnh khắc di chuyển của thời gian.

Có những tác phẩm đến từ ký ức cá nhân, như “Em bé” lấy cảm hứng từ con gái tôi, Luna. Có những tác phẩm đến từ vấn đề xã hội, như “Storm of Change”, lấy cảm hứng từ cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ. Nghệ thuật, với tôi, không chỉ làm đẹp một không gian, nó cũng có thể mở ra một cách nhìn khác về con người, vật liệu và đời sống đô thị.

Sống lâu ở TP.HCM, văn hóa Việt cũng đi vào tác phẩm một cách tự nhiên. Chim hạc trên trống đồng Đông Sơn, tranh Đông Hồ, 12 con giáp, hình tượng ngựa ngày Tết, những chất liệu ấy dần trở thành một phần ngôn ngữ mỹ thuật của tôi. Tôi là người đến từ bên ngoài, nhưng chính thành phố này cho tôi cơ hội nhìn lại những điều đôi khi người bản địa lướt qua trong nhịp sống hằng ngày.

Những năm gần đây, các tác phẩm của tôi có cơ hội xuất hiện trong một số không gian và sự kiện nghệ thuật ở TP.HCM, từ triển lãm “Cất Cánh” năm 2025, Gallery De la Sól đến Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM. Tôi xem đó không phải là một sự khẳng định lớn lao, mà là một cách để những mảnh kính từng bị bỏ quên có thêm cơ hội gặp người xem, đối thoại với thành phố và phản chiếu lại một phần đời sống nơi chúng được nhặt lên.

Tôi không sinh ra ở TP.HCM, nhưng thành phố này đã cho tôi chất liệu, ánh sáng và một lý do để tiếp tục sáng tạo. Ở đây, tôi học được rằng mảnh vỡ không nhất thiết là dấu chấm hết. Nếu biết nhặt lên, mài bớt cạnh sắc và đặt vào ánh sáng, nó có thể bắt đầu một đời sống khác. 

Trước khi thật sự đặt chân đến đây vào cuối năm 2022, Việt Nam chưa bao giờ nằm trong kế hoạch sự nghiệp của tôi. Khi ấy, tôi đang làm việc tại một khách sạn ở Ai Cập và đã chuẩn bị sẵn hành lý để đến châu Âu. Nhưng một lời gợi ý từ người bạn về cơ hội tại Racha Room ở TP.HCM đã thay đổi tất cả. Trong khi bạn bè đồng nghiệp của tôi chọn những điểm đến quen thuộc như Singapore hay Hong Kong, tôi lại tự hỏi: "Tại sao không thử?". Sau hơn 4 tháng suy nghĩ, tôi lên đường với vỏn vẹn một suy nghĩ đơn giản như thế, để rồi vô tình gắn bó với thành phố này suốt gần bốn năm qua.

Hành trình từ năm 17 tuổi trong ngành F&B, đi qua Ai Cập, Singapore đến Nepal, đã rèn cho tôi một bản năng thích nghi mạnh mẽ. Nhưng thành phố này vẫn mang lại cho tôi những rung động rất riêng. Tôi nhớ những ngày đầu tiên, sự náo nhiệt ở Quận 1 làm tôi nhớ đến đường Silom ở quê nhà Bangkok, còn không gian thư thái của Thảo Điền, Quận 2 lại xoa dịu những áp lực. Sự tương đồng trong văn hóa gia đình và cách con người đối xử với nhau đã từng bước xóa nhòa rào cản của một người ngoại quốc.

Hiện tại, ở năm 2026, tôi đứng sau quầy bar của Firkin Bar với tư cách là một Head Bar. Nơi đây vừa giữ vững danh hiệu Top 20 quán bar tốt nhất Việt Nam bởi Tatler. Gần bốn năm ở đây, tôi đã đi qua những cột mốc ý nghĩa: vào Top 8 World Class Việt Nam 2024 với tư cách người nước ngoài đầu tiên, rồi giành quán quân Señorío Mezcal Lab 2025. Nhưng điều làm tôi tự hào nhất không phải là danh hiệu, mà là cảm giác được chào đón từ những đồng nghiệp và vị khách quen. Tôi tìm thấy niềm vui trong việc dẫn dắt thế hệ bartender trẻ Việt Nam - những người luôn khát khao học hỏi và tôn trọng nghề nghiệp một cách nghiêm túc. Tại đây, tôi luôn giữ vững triết lý: trước hết hãy làm việc chuyên nghiệp, và cùng nhau biến nơi này thành một ngôi nhà.

Tôi từng đến đây như một người lạ. Nhưng sau bốn năm, từ những nụ cười của đồng nghiệp đến cái chạm ly nồng hậu của khách hàng, TP.HCM đã nhận tôi làm một người nhà. Việt Nam không còn là một điểm dừng chân tạm thời, mà là nơi tôi chọn để cống hiến, trưởng thành và tiếp tục phát triển.

Tám năm trước, tôi đặt chân đến TP.HCM lần đầu tiên trong một kỳ nghỉ xuyên Việt kéo dài một tháng. Sống ở Los Angeles không xa khu Little Saigon, Việt Nam vốn không phải là một cái tên xa lạ trong tâm trí tôi, nhưng phải đến khi thực sự lang thang qua những con phố, nếm thử món ăn bản địa và trò chuyện cùng người dân, tôi mới cảm nhận được một sợi dây gắn kết vô hình. Để rồi suốt nhiều năm sau đó, cứ mỗi dịp Giáng sinh, tôi lại gác lại guồng quay công việc tại Mỹ để trở lại, lặng lẽ uống ly cà phê ở quán cóc, ngắm nhìn siêu đô thị năng động này chuyển mình.

Càng gắn bó, tôi càng nhận ra mình không muốn chỉ đến rồi đi như một du khách bộ hành. Là một người theo đuổi bộ môn võ thuật truyền thống Nhật Bản Ninpo Taijutsu nhiều năm và đã đạt trình độ đai đen, tôi muốn để lại một điều gì đó bằng chính khả năng cho mảnh đất này. Ba năm trước, tôi quay lại TP.HCM và thuê lại một căn hộ studio có sân thượng lớn trên đường Ngô Tất Tố, lắp thêm mái che, mua đệm tập, dụng cụ chuyên biệt và trang trí lại không gian. Dần dần, sân thượng ấy trở thành võ đường Komori Dokutsu, một lớp học không thu học phí. Suốt hai năm qua, võ đường vẫn vẹn nguyên nguyên tắc "0 đồng". Tôi mở lớp chưa từng vì kinh doanh, mà chỉ muốn giúp các bạn trẻ Việt có nơi rèn luyện thân - tâm - trí. Khi ở Sài Gòn, tôi trực tiếp đứng lớp, đều đặn 5 tối mỗi tuần. Lúc phải về Mỹ mưu sinh, thầy trò lại kết nối qua màn hình Zoom hay những video tôi tự tay quay dựng. Đôi khi, để tiếp thêm động lực cho các em, những võ sư quốc tế là bạn thân của tôi như Brandon hay Lamine cũng lặn lội sang tận TP.HCM để cùng hỗ trợ giảng dạy. Khoảng cách địa lý chưa bao giờ làm đứt gãy mạch tập, bởi dưới mái hiên này, ngọn lửa tâm huyết vẫn luôn được duy trì bền bỉ.

Tôi trân trọng vô cùng lòng kiên trì của các em như Trần Kim Đình bất chấp mưa ngập vẫn chạy xe 40 phút từ Bình Tân đến lớp, hay Bảo Ngọc, cô bé 14 tuổi từng bị bắt nạt nay đã tìm lại sự tự tin vững vàng. Không chỉ bó hẹp sau bốn bức tường, chúng tôi còn mang kỹ năng tự vệ đến các mái ấm tình thương, tiêu biểu như Trung tâm Hỗ trợ Trẻ em Đường phố (Friends of Street Children). Sau những giờ tập, võ đường lại trở thành mái nhà nhỏ để thầy trò cùng ăn cơm và chia sẻ chuyện đời.

Hiện tại, tôi sắp về nước vì những dự định cá nhân. Để tiếp nối tâm huyết này, Trương Hòa My, người học trò đầu tiên của võ đường, đã đứng ra nhận tiếp quản và dời không gian tập về khu vực đường 3/2. Nhìn các học trò cẩn mẫn lau chùi từng tấm đệm tập chuẩn bị cho cuộc chuyển dời, tôi lặng lẽ hướng mắt xuống thành phố đang lên đèn trong cơn mưa đêm rả rích. Tôi lo lắng nhưng cũng cảm động, vì những kết nối đặc biệt này. Hơn tám năm ghé thăm và hai năm gắn bó bằng ngôn ngữ võ thuật, thành phố này đã thành một phần trong trái tim tôi. 

Tôi đến Sài Gòn - TP.HCM lần đầu tiên vào năm 1991. Thời gian đó, xe cộ còn ít, đường rợp bóng cây xanh, con người thân thiện và phố xá còn giữ được vẻ đẹp ban sơ, đơn giản với phương tiện chủ yếu là xe đạp. Năm 2017, tôi trở lại với một công việc lâu dài và bất ngờ trước sự thay đổi của thành phố. Từ đường sá, đến phương tiện giao thông, kiến trúc, nét hiện đại, hội nhập và là nơi quy tụ của nhiều công ty đa quốc gia cũng như nhiều người nước ngoài đến sống và làm việc. 

Những thay đổi của thành phố làm cho một người xa lạ mới đến vài lần như tôi phải bất ngờ. Khi trở lại như một người định cư lâu dài chứ không phải một khách du lịch chớp nhoáng, tôi lại thấy những khuôn mặt khác của thành phố. Đó là sự hỗn loạn của giao thông đan xen ngang dọc, những lúc kẹt xe giờ tan tầm, người người chạy xe lên vỉa hè, những buổi sáng chiều triều cường ngập nước.

Tôi vừa mong cho mau hoàn thành công việc để trở về nước vừa tìm cách hòa nhập vào cộng đồng “expat” ở Thảo Điền để giúp cho những ngày tháng ở đây trở nên dễ chịu. Mọi thứ dần ổn định, tôi có bạn bè rồi bắt đầu tham gia vào nhóm đạp xe đạp và phát hiện ra đây là một trong những nơi mà mình có thể đạp xe lòng vòng và ngắm nhìn thành phố một cách thoải mái, an toàn như vậy. Cuộc sống của tôi bắt đầu trở nên vui vẻ và màu sắc hơn. Những lần đạp xe rong ruổi từng con đường, ngõ hẻm, khám phá quán xá, tôi hiểu thêm phần nào văn hóa ăn uống, sinh hoạt của thành phố. 

Tôi dần có thêm những người bạn Việt Nam, họ nhiệt tình, thân thiện và rất tình cảm. Mỗi dịp lễ tết, họ mời tôi đến nhà gói bánh tét, ăn cơm tất niên. Có hôm, xe đạp của tôi bị hư giữa đường trưa nắng, đang loay hoay chưa biết làm thế nào thì có một bác xe ôm chạy đến hỏi han và giúp đỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cảm động khi nhận được sự giúp đỡ ân cần của một người xa lạ, giữa một thành phố cũng chưa kịp quá thân quen. 

Nếu hỏi tôi điều gì tôi ấn tượng nhất về Sài Gòn, tôi sẽ trả lời đó chính là cảm giác được sống trong tình cảm ấm áp của con người với nhau cũng như sự gắn kết trong cộng đồng dần tạo nên những mối liên kết chặt chẽ mà người bản xứ hay gọi tên bằng hai chữ nghĩa tình. Nó làm trái tim tôi tan chảy và cảm thấy những phần gai góc, xù xì của thành phố bỗng dưng dịu đi, mờ nhạt hẳn. 

Tôi tin ít nhiều trong chúng ta ai cũng đều hiểu cảm giác, khi đã ở một nơi nào đó đủ lâu, một buổi sáng thức dậy, mình sẽ cảm thấy nơi đây là nhà mình. TP.HCM đối với tôi cũng vậy, tôi thấy nó thân quen, những rộn rã chật chội sớm mai, những chen chúc lúc tan tầm, kể cả những lần ngập nước, tất cả không còn đáng sợ với tôi nữa vì thành phố còn có những điều khác vượt trội hơn đáng để yêu mến. 

Giờ đây, TP.HCM trở thành ngôi nhà thứ hai của tôi. Tôi hạnh phúc khi được sống trong một thành phố đầy tình cảm giữa những con người từ nhiều phương trời tụ hội, được chia sẻ và đóng góp một phần vào sự phát triển của mảnh đất này, nơi dung chứa hàng triệu con người từ nhiều nơi khác nhau về cùng chung sống và không muốn rời đi vì những gắn kết cảm tình của người và đất, dù đơn giản nhưng bền chặt hơn cả tháng năm. 

Chia sẻ

Chia sẻ zalo Chia sẻ zalo Chia sẻ zalo Chia sẻ zalo
Thứ Ba, ngày 30/06/2026 09:46 AM (GMT+7)

Uyên Bùi - Quốc Cường